Tiên Phước la huyen MIỀN Núi Phia tây nam ve Tỉnh Quảng nam, Cách Mạng Tháng Tỉnh lý Khoang 27 km, Giáp voi CÁC huyen: Bắc Trà My, Hiệp Đức, Phú Ninh, Thăng Bình, có Giá Diện Tích Tự Nhiên 453,22 km2, Dân Số 74,5 Nghìn Người, GOM 14 Xã So sánh 01 thị trấn.Nơi đẩy tung ra nhung sinh sản Nhân danh, nhung Nước Người yêu con, Tiêu Biểu có Giá cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Châu Trinh. Nội đẩy cung tung la căn cứ cách mạng quan Trọng Tỉnh ca cua, noi nhung dương nuối nhà lanh đạo, nhung Sỹ Chiến công sản Trung Kiên. Xưa kia Tiên Phước thuốc vung Đất Chiêm Động cua Champa, đèn thoi nhà Hồ Năm 1402 thi vung nay Đất được Sát nhập VAO Thổ lạnh Nước ta. Tiên Phước có Giá Tên goi VAO Năm 1920. Nhung Khao học cổ o Tiên Hà, Tiên Lãnh cho thay VAO Khoang Năm 2500-1900 nền văn hoá sa huỳnh đá hữu hien o noi đây.Theo thoi gian ve lanh Thổ Tiên Phước có Giá nhung thay đôi đáng ke ... Sáu Ngày quê hương hoàn Toàn Giải Phóng (1975/10/03), Tiên Phước đá có Giá nhung bước minh chuyện đáng ke, đời sống cua dan Nhân Dân Cải thiện được, nhà cửa khang trang hơn, đường sá đi được dễ dàng Lại . Co the noi cua thế Mạnh Tiên Phước la Nông Lâm Nghiệp, nội đẩy dương Như thiên Nhiên ưu đại ma nhung LOẠI cây ăn quả, nhung cây lưu niên LOẠI có Giá nhung hương vị đắc trưng, nhung Giá trị dược thay qui ma nó noi nao có Giá được. Một Số LOẠI cây Tiêu Biểu MIỀN cho quê o đẩy Như: cây lon bon, thanh trà, Dừa, Chuối, quế, hồ Tiêu, làm bau, cau ... Neu Bàn Cờ ý thức thượng Định, mua ve làm quà hay đèn tính chuyện làm ăn kinh nghiệm Tế cấm tức khong ve lo Số lương, Lương chất. Bội o đẩy có Giá Nhung co khang Định Sở đề ve chat luong So sánh tiềm Năng Phát Triển đế, Thủ la rat Nhất Hương vị đắc trưng, Thứ hai Diện Tích Đất đề Phát Triển LOẠI cây nay rat Lớn (Điện Tích Đất Nông Nghiệp la lâm 28,472 m2). Mặc du tiềm Năng Tế Phát Triển kinh tai huyen nhà chuột Lớn, nhung bao Năm qua cái nghèo đeo bám o van manh Đất nay, theo thống kê năm 2005 Năm ty Lê Hồ nghèo Toàn huyen la 40,07% (theo chuẩn mới). Khong Phai Người Dân o noi khong đẩy Biết làm ăn Cách, hay thieu Cần cũ ma la o mot đẩy có thể cùng Chiến lược Bảo đậm được thị Trường-ĐẦU Định ra trên địa cho Phương. o Người ta đẩy sản Xuất dương Như mang tính Phật Tử, thay Lợi truoc mắt la làm, cho nền sản suất mang tính Nhỏ le, phân tán, nay Mạnh ai làm, Chữa tập trung, Không có nhung trang trai Lớn quy mô, bội thế sản phẩm làm ra Thường làm tư thương ép Gia. Một trang dễ Nhận thức thay nhung Trọng Năm vua qua la Người ta chay theo Giá ca cứ cây LOẠI Giá được thay nao la xo độ VAO Trọng, So sánh cứ thế Trọng hết cây đèn cây Khác nay; chặt cau, phá Tiêu đề Trọng quế , quế chặt đế Trọng cau ....

  Quảng Nam yêu thương
Tiên Phước mot MIỀN quê
Tình Quê
Vệ Quế
Vệ Sông Tiên
Việt Nam quê hương toi

 

 Làng Thạnh Bình xưa

Tôi về thăm lại làng Thạnh Bình xưa (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), quê hương của nhà chí sĩ  Huỳnh Thúc Kháng. Anh Hồ Minh Linh - cán bộ xã Tiên Cảnh, đưa tôi đi khắp làng; và ngược dòng thời gian tìm về nguồn cội...

Huỳnh Thúc Kháng sinh năm Bính Tý - 1876. Lúc nhỏ có tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh. Hiệu là Mính Viên. Ông nổi tiếng là người thông minh học giỏi ngay từ thuở thiếu thời. Năm Giáp Thìn - 1904, ông thi đỗ Tiến sĩ Hán học. Lúc bấy giờ, Phan Châu Trinh là người cùng huyện, quê làng Tây Lộc, cũng đã "treo ấn từ quan" để mưu việc lớn. Và ba người đồng hương, đồng khoa là Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp cùng nhau hơp lực, giương cao ngọn cờ Duy tân: "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". Để cổ súy cho phong trào Duy tân, ba người thực hiện chuyến Nam du. Khi đến Bình Định, gặp lúc các quan đầu tỉnh mở kỳ khảo hạch, họ đóng giả sĩ tử, lẻn vào trường thi làm bài phú "Danh sơn lương ngọc" và bài thơ "Chí thành thông thánh", cả hai bài đều ký tên Đào Mộng Giác. Bài phú chỉ trích những sĩ phu mê văn chương bát cổ mà không nghĩ đến nỗi nhục mất nước, muôn dân nô lệ lầm than, gây chấn động giới trí thức khắp trong Nam ngoài Bắc.
Rất lo ngại với chuyến Nam du của ba nhà ái quốc, thực dân Pháp cố tìm cách cản ngăn. Năm 1908, nhân cuộc chống sưu cao thuế nặng ở Quảng Nam rồi nhanh chóng lan khắp Trung Kỳ, thực dân Pháp liền triệt hạ ba vị chủ soái của phong trào Duy tân. Trần Quý Cáp bị xử chém tại Khánh Hòa, Huỳnh Thúc  Kháng và Phan Châu Trinh bị đưa đi đày ngoài đảo Côn Lôn. Mười ba năm ở tù, Huỳnh Thúc Kháng vẫn không nao núng tinh thần, tự học thêm tiếng Pháp từ một cuốn từ điển Pháp - Việt. Năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng được trả tự do. Và ông muốn thông qua con đường nghị viện để đấu tranh nên ra ứng cử Viện Dân biểu Trung Kỳ và được bầu làm Viện trưởng. Tuy nhiên, sau phiên họp đầu tiên của Viện Dân biểu, ông mới nhận ra rằng, đấu tranh bằng con đường nghị viện sẽ chẳng bao giờ thực hiện được điều hằng mong ước. Và ông quyết định chuyển sang làm báo.
Báo Tiếng Dân - tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ở Trung Kỳ do Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút chính thức ra mắt bạn đọc ngày 10 - 8 - 1927. Gần mười sáu năm tồn tại, Báo Tiếng Dân là cơ quan phản ánh tiếng nói của dân, bênh vực quyền lợi chính đáng của  dân, thực hiện đúng tôn chỉ mục đích mà người sáng lập đã đề ra: "Làm đúng như tên Tiếng Dân, thà chết, quyết không để cho cái gì lay chuyển hay lôi kéo đi đường khác". "Giữ cái tinh thần phương Đông "quốc hữu" cùng nuôi đám lửa nhiệt thành ái quốc của các nhà tiên thời trong đống tro tàn, không để đứt mất". Chính vì thế, Báo Tiếng Dân đã tập hợp được đông đảo các nhà trí thức của hai trường phái Tân học và Nho học; trong đó, có nhiều người cộng sản mà sau này nổi danh cả nước như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều...
Sau khi khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Không quản ngại tuổi cao sức yếu, cụ Huỳnh đảm nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Khi Bác Hồ sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, cụ Huỳnh được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước. Và với cương vị nguyên thủ quốc gia, cụ Huỳnh đã vận dụng lời căn dặn của Bác Hồ "Dĩ bất biến ứng vạn biến", dẹp yên vụ phản loạn của bọn Quốc dân đảng ở phố Ôn Như Hầu, trấn áp bọn tay sai quân Tàu Tưởng, thu phục nhân tâm và nâng cao uy tín của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Năm 1947, cụ Huỳnh đi kinh lý các tỉnh miền Trung và chẳng may bị bệnh nặng rồi mất tại Quảng Ngãi ngày 21 - 4 - 1947. Trước lúc lâm chung, cụ Huỳnh đã đánh điện gởi Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện; thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không gặp được Cụ lần cuối cùng! Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh  quang, hạnh phúc". Cụ Huỳnh mất là tổn thất vô cùng to lớn đối với Chính phủ Liên hiệp. Trong bức thư gởi đồng bào cả nước thông báo quốc tang cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Cụ Huỳnh là một người giàu  sang không làm siêu lòng, ,nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập".
Người ta bảo "Thạnh Bình là đất địa linh nhân kiệt", nơi gieo ươm những "hạt giống đỏ" để rồi sau đó Chi bộ Thạnh Bình - một trong hai chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Tiên Phước được thành lập. Các bậc cao nhiên kể rằng, vào cuối những năm ba mươi của thế kỷ XX, các đồng chí Võ Chí Công, Phan Thị Nễ đã về đây hoạt động cách mạng. Vào đầu năm 1941, những thanh niên địa phương có tinh thần yêu nước, lại sớm được giác ngộ cách mạng như Phạm Bằng, Huỳnh Quyên, Đào Trợ, Huỳnh Hóa,...đã sát cách bên nhau lập nên Chi bộ Đảng Thạnh Bình. Anh Hồ Minh Linh cho biết, những "hạt giống đỏ ấy", sau này trở thành lực lượng nòng cốt lãnh đạo nhân dân đứng lên dành chính quyền ở xã ở huyện trong cuộc Tổng khởi nghĩa mùa thu Cách mạng 1945. Chín năm chống Pháp rồi hai mươi mốt năm chống Mỹ, cứu nước, cán bộ và nhân dân Thạnh Bình đã đóng góp nhiều sức người sức của cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Làng Thạnh Bình xưa - xã Tiên Cảnh hôm nay, nay đã đổi thịt thay da. Chủ tịch UBND xã Bùi Văn Ứng vui mừng khoe: "Người dân Tiên Cảnh coi trọng ngành nghề truyền thống và biết khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương là làm vườn, trồng các loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như quế, hồ tiêu, dó bầu, lòn bon,..nên đa phần đều có cuộc sống ổn định sung túc. Toàn xã có 2.087 hộ với hơn một vạn nhân khẩu. Tiên Cảnh có tổng diện tích tự nhiên không lớn, nhưng lại là địa phương có số dân đông nhất huyện. Tuy chưa phải là một xã giàu, song cũng không còn bị liệt vào hạng đói nghèo triền miên. Hiện toàn xã có 81% số hộ xây nhà kiên cố, 65% số hộ có radio-cassette, 70% số hộ có ti vi, 38% số hộ mua sắm được xe máy. Kinh tế vườn ở Tiên Cảnh chiếm hơn 70% tổng thu nhập hằng năm của bà con. Có rất nhiều hộ nhờ cải tạo vườn tạp, lập vườn đồi vườn rừng theo mô hình kinh tế trang trại vừa và nhỏ, trồng các loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao mà trở nên giàu có, khá giả. Điển hình là các hộ ông Nguyễn Thanh Sơn, Lê Trường Thi, Nguyễn Văn Thuật, Phan Văn Thái, Đoàn Kim Thiệt, Nguyễn Tường,...
Thạnh Bình đã biết khơi dậy những truyền thống tốt đẹp của quê hương xứ sở, biết khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương để tự vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Trong bài thơ Gạo và tiền, cụ Huỳnh đã viết: "Nền xã hội rất cần là sự sống/ Gạo với tiền hai giống đầu tiên". Với người dân Tiên Cảnh, hiện nay là hai thứ thiết yếu để làm nên "sự sống", để xây "nền xã hội", họ đã có, dẫu chưa nhiều, chưa dồi dào dư dả! Và tôi nghĩ, trong tương lai không xa, thiên hạ không chỉ biết làng Thạnh Bình xưa - xã Tiên Cảnh hôm nay là nơi sản sinh ra cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng những nhân vật kiệt hiệt của phong trào Nghĩa hội, phong trào Đông du, mà còn là miền quê sơn cước trù phú với những ngôi nhà tường xây mái ngói tươi màu vôi ve ẩn hiện trong những vườn cau vườn quế nối tiếp nhau làm nên những xóm mạc ấm no trù phú với bao cảnh quê đẹp như tranh vẽ...
NGUYỄN TAM MỸ

 DI TÍCH

Công binh xưởng QB 150 khu V
----------------
 
Công binh xưởng Quân binh 150 khu V từng đóng ở 4 địa điểm trên địa bàn huyện Tiên Phước: năm 1947 – 1949 đóng tại Hố Đá, trước cánh đồng Cây Sanh, thuộc làng Thạnh Bình, nay là thôn 01 xã Tiên Cảnh huyện Tiên Phước; năm 1949 chuyển từ Hố Đá ra Cà Táng cũng thuộc làng Thạnh Bình và đóng ở đây (thôn 01) trong thời gian khoảng 01 năm, sau đó chuyển đến một địa điểm khác thuộc làng Lộc Yên (nay thuộc thôn 04); năm 1950 Xưởng chuyển đến thôn 02 ở địa điểm Nà Lá (Rừng Lớn) Tiên Cảnh và tồn tại hoạt động cho đến hết cuộc kháng chiến rồi chuyển ra miền Bắc.
 
Ngày 21/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, giặc Pháp quay lại gây hấn và đánh chiếm Sài Gòn, hòng cướp nước ta một lần nữa. Đến tháng 3/1947, quân viễn chinh Pháp mở rộng cuộc tiến công đánh sâu vào hậu phương nông thôn rộng lớn của ta. Ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng, ngày 03/3/1947, chúng mở đầu cuộc tấn công và nhanh chóng chiếm các huyện thị đồng bằng. Trước thực tế đó hàng vạn đồng bào đã tản cư lên Tiên Phước, lúc đó vẫn là vùng tự do chưa bị Pháp chiếm đóng. Không những tiếp đón, cưu mang, giúp đỡ những đồng bào tản cư mà còn là căn cứ địa của tỉnh, các trại sản xuất, các công binh xưởng, xưởng giấyỡcưởng hóa chất, các Bệnh viên quân y và dân y... Trong số những cơ sở sản xuất đóng tại địa bàn huyện Tiên Phước, công binh xưởng QB 150 đã có những đóng góp to lớn cho chiến trường Liên khu V lúc bấy giờ góp phần vào công cuộc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp.
 
Những tháng đầu năm 1947, Công binh xưởng QB 150 chuyển về đóng cơ sở ở Hồ Đá (nay là thôn 01, Tiên Cảnh) là một cơ sở Quốc phòng khá lớn, có trên 300 công nhân quân giới làm việc khẩn trương suốt ngày đêm. Lúc bấy giờ Quảng đốc của Công binh xưởng là đồng chí Đỗ Kim Cẩn (khoảng 27 – 28 tuổi). Công binh xưởng lúc bấy giờ chuyên sản xuất: lựu đạn đập, sửa chữa và cải tiến súng thu được, chế tạo đạn súng trường Maz 36. Do nằm ở vùng đồi núi, địa thế hiểm trở, ba mặt giáp núi, là điều kiện che chắn, bảo vệ, làm cho quân thù khó khăn trong việc phát hiện, đánh phá, oanh tạc. Công binh xưởng tồn tại ở đây trong một thời gian dài.
 
Năm 1949, để tiện cho việc tập kết nguyên vật liệu cũng như xuất xưởng vũ khí, đạn dược ra chiến trường thuận lợi hơn, Công binh xưởng QB 150 chuyển từ Hồ Đá ra Lộc Yên, ngay trước cánh đồng Dinh và phía sau nhà ông Bùi Thiểm (nay là thôn 01). Lúc này Quản đốc vẫn là đồng chí Đỗ Kim Cẩn và nhà ông Thiểm được dùng làm Văn phòng của Công xưởng. Tại đây đồng chí Cẩn đã chế tại ra máy dập chốt đạn và được tặng danh hiệu Anh hùng lao động, sau đó được cử đi Liên Xô học tập. Để phù hợp với tình hình chiến trường, ngoài việc chế tạo lựu đạn đập, đạn súng trường Maz36, lúc này Công binh xưởng còn chế tạo đạn súng Canuasinua, Mouscaton. Đặc biệt, trong thời gian này Công binh xưởng đã biết tận dụng nguồn phân Dơi lấy từ Hang Dơi (Tiên An) để chế tạo thuốc nổ. Việc sử dụng tốt nguồn nguyên liệu tại chỗ này có ý nghĩa rất lớn, hạn chế tối đa về tài lực trong vận chuyển nguyên liệu phục vụ cho Công binh xưởng.
Do có xu hướng bị bại lộ, Công binh xưởng Q.B 150 chuyển đến một địa điểm khác cũng ở làng Lộc Yên (nay thuộc thôn 04 Tiên Cảnh) ngay sau nhà ông Nguyễn Đình Huỳnh và nhà ông trở thành Văn phòng làm việc của Công binh xưởng. Lúc này Quản đốc Công binh xưởng là đồng chí Trần Tuyển Hồ. Công binh xưởng tọa lạc ở đây trên một diện tích khoảng 2 ha, các nhà xưởng được làm ngầm dưới mặt đất để tránh bị máy bay địch phát hiện. Nhưng bám trụ ở đây chưa được lâu thì giặc Pháp theo chỉ điểm của Việt gian đem máy bay thả bom Napan cháy lán trại của Xưởng buộc Công binh xưởng phải chuyển đi nơi khác.
 
Năm 1950, Xưởng phải chuyển đến Nà Lá (thuộc thôn 02 Tiên Cảnh) và tiếp tục sản xuất vũ khí đạn dược cung cấp cho cả chiến trường Quân khu V đánh Pháp, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954) lừng lẫy. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Công binh xưởng QB 150 được lệnh chuyển ra Bắc.
 
Công binh xưởng QB 150 là một cơ sở quốc phòng khá lớn, có trên 300 quân nhân quân giới làm việc chuyên sản xuất lựu đạn và sửa chữa binh khí. Đây được xem là một Xưởng công binh đầu tiên ở Liên khu V, có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp đạn dược cho toàn chiến trường Khu V, góp phần to lớn vào thắng lợi của quân và dân miền trung trong 9 năm kháng chiến chống Pháp.
 
Nhớ món quà đồng quê

Tren nhung cánh đồng quê Trung MIỀN o toi truoc Ngày có Giá nhieu ram. Chung o nhung cái hang vén nhiều việc khong bo ruộng. Khí Gặp mưa, ram bò đi kiếm ăn, ta tha hồ nhat bỏ VAO Cần Giờ. Tiết tháng 10 (âm lịch) cung la Mùa nhủi cá. Cha toi, Từ sáng tinh mơ đá vác nhủi cung Đoàn Người đề ra đồng kiếm cá.

Giỏ đẩy muon mau thi phai đi đông cho Người, nhủi nhieu, dàn hàng Ngang, mới hai tay Người Nam có thể nhủi Vua chay tren vua Nước đẩy ruộng. Cá nhảy tứ tán. Khí nhieu nhủi cá Từ nay, nhảy qua nhủi Khác (Nhất cá la Trầu), có thể nho chiu rủi, ke cung vui. Nhất la CÁC đám ruộng, Người ta Đang làm cây vụ đông xuân. Khí cây xung quanh đám ruộng, Điện Tích Đất Chưa cây Th 5. Viêm Gan dan, Nước đục, có Giá nhieu nhủi cá. Cá thi có Giá đư LOẠI: cá Lớn Như cá Trầu, cá rô ... cá Nhỏ Như cá mại, cá thể ... ngoài ra Cồn Cỏ ốc bươu So sánh vai ram Khoang đồng lạng.

alt

Mẹ toi nhieu bien chế món ăn Từ RAM Khoái Khẩu. Nao ram rang, nao chien Gion ... lớp trẻ bon toi la ram Khoái Nhất nướng, ngay thơm mui chấm, muối Tiêu voi chanh hoặc muối ot xanh thi hết ý. Tuy Nhiên món ram um lá rất nhiều thi hap dan hơn. Ram ve bat, rửa kỹ nhiều việc độ Ngam Nước sạch Khoang 15 phút, độ nhiều việc rửa Lai, đề rao. Khử dầu Phụng Thứ thiet voi toi Khí dầu bọc thi mui thơm cho VAO ram, lớp vỏ cua ram Từ Xâm gach qua màu đỏ. Nem Nước tương, hoặc Nước mắm, mì ăn Vua Chinh. Khí nhạc truoc xuong mot "Name bỏ nó lá rất nhiều Xát Nhỏ VAO khuấy đều. Món ăn nóng nay voi cơm voi cái Gion, beo vỏ cua, cái Ngọt cua thịt, cái thơm cua lá rất nhiều ... Lục trời mưa LUT o quê toi, tu tren đoán thân Gốc CÁC cây tre cua bui tre quanh Vườn nứt ra nhung voi mang, Côn goi la mang doi. Bon trẻ chung toi chi VIỆC vác theo cái "câu Liêm" đi Hải. Mạng doi mang ve, Lô được So sánh Xát xèo ra, chi Xát phần mềm nhiều việc độ lược Ngam So sánh voi Nước chua. Vải Ngày nhiều việc, VOT mang ra rửa sạch So sánh qua Nước nấu canh chua cá voi, ram đồng đều ngon, hap dan voi lu trẻ quê nghèo chung toi loi Nước đôi bụng, đánh chén no ne.

Tuổi thơ đi qua cua toi nhung bừa cơm quê nghèo xứ Quảng MIỀN Trung voi ram món mắm đồng làm ơn cho tôi toi chế Biên. Ngày cha VAO nhung toi ve đi nhủi được nhieu ram, tôi rửa sạch toi nhieu lan, rưởi nó Nước sợi cho chân, cang ram rung So sánh bột cho VAO coi đá đá thật nhuyễn sạch Gia, Lấy vật Nước cốt roi cho VAO cái hay hũ sành voi lương Thích hợp muối, kin bit nhiều việc độ "hay hũ mắm" Lại bang gan ny lon đế "Ông Kiểng" tren Bếp cho ấm. Khoang Năm Ngày nhiều việc mang ra đập mắm voi ot Xiêm voi ăn cơm, Bún, bánh đúc ... đều ngon chuột voi thơm hương vị đắc chuột trưng ma hiểm thay LOẠI mắm nao có Giá được.

SƠN TÙNG

 

Nguồn tin: Báo Quảng Nam
Tin đùa Ngày 30/10/2009
Cụ Huỳnh Thúc Kháng
 
          Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, quê làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, 8 tuổi đi học, 13 tuổi đã văn hay chữ tốt, 16 tuổi đi thi Hương, nổi tiếng ở Kinh đô Huế, sánh cùng Trần Quý Cáp, Phạm Liệu, được xếp vào hạng Tam hùng, năm 29 tuổi ông đỗ Tiến sĩ, được nhân dân sở tại gọi là Ngũ hổ. Ông là một trong những nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân mới được trả về đất liền, ứng cử vào Viện Dân biểu Trung kỳ năm ông 51 tuổi, sau hai năm ông từ chức.
 
          Ngày 10/8/1927, ông sáng lập ra nhà in và báo Tiếng Dân cho đến năm 1943. Suốt thời gian này ông vừa làm chủ nhiệm nhà in Huỳnh Thúc Kháng và chủ bút tờ báo Tiếng dân. Ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra tham gia nội các Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Đến năm 1946, khi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa sang Pháp đàm phán, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước. Thời gian này cụ còn là chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân. Cuối năm 1946, cụ là đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến hành chính nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
 
          Nghĩa Hành lúc bấy giờ là an toàn khu, là Thủ phủ của vùng tự do Liên Khu V. Nhiều cơ quan chính quyền các cấp, nhiều đơn vị bộ đội vệ quốc đoàn đóng tại nhà dân. Quân với dân như “cá với nước”. Ngoài trong thống nhất, trên dưới một lòng quyết tâm đánh thắng giặc pháp xâm lược. Tháng 3/1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng lâm bịnh nặng và qua đời đúng vào ngày 21/4/1947 tại gia đình chị Võ Thị Tuyết thôn Phú Bình, xã Hành Phong, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Làm theo tâm nguyện của cụ, nhân dân đã đưa cụ lên an táng trên đỉnh núi Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi – “Thiên Ấn niên hà” (Ấn trời đóng xuống sông).
 
          Trong khi tiến hành lễ quốc tang cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Ban tổ chức lễ tang đã trang trọng uy nghiêm đọc bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vào: “Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà Cụ trước đây bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường gian nan cực khổ, nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ chẳng những không sờn, mà lại thêm cương quyết.
 
          Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm siêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đầu cho dân được tự do, nước được độc lập, đến ngày nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy đã 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời, Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ Quốc.
Cụ Huỳnh tạ thế, nhưng cái chí vì nước, vì nhà của Cụ vẫn luôn sống mạnh mẽ trong lòng hai mươi triệu đồng bào chúng ta”.
 
          Và, trong bài điếu văn “Thương tiếc cụ Huỳnh Thúc Kháng” đọc đầy xúc động của đại diện Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã kết thúc bằng hai vế đối thật súc tích, đầy ý nghĩa:
          “ Làm nghệ sĩ không vinh, tù Côn Lôn không nhục, khí tiết cội Tùng trơ mộ gốc
          Lãnh Bộ trưởng trọn tài, quyền Chủ tịch trọn đức, tinh anh sao Vĩ chiếu ngàn thu”.
         
Thế Nguyễn
DI TÍCH VÀ DANH THẮNG TIÊN PHƯỚC
NHỮNG TIỀM NĂNG DU LỊCH
 
 Tiên Phước nằm ở những dãy núi thấp của gờ Đông Trường Sơn, cách trung tâm tỉnh lỵ Tam kỳ khoảng 25 km về hướng Đông Bắc. Cùng với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình của một vùng trung du, các giá trị văn hóa dân gian, truyền thống cách mạng với nhiều địa danh, tên đất, tên làng đã đi vào lịch sử, và những thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú của vùng bán sơn địa đã tạo cho Tiên Phước một bức tranh lung linh sắc màu, hứa hẹn những điểm dừng lý tưởng cho du khách thập phương.
 
Từ Tam Kỳ, ngược tuyến ĐT 616, qua khỏi dốc Suối đá, một địa danh từng làm kinh hoàng bọn lính khố xanh, khố đỏ bằng trận quyết tử của các nghĩa sĩ Cần Vương, du khách đã đặt chân đến mảnh đất Tiên Phước. Những khúc quanh co uốn lượn của tuyến ĐT 616 chắn hẳn sẽ không làm nản lòng các du khách trong cuộc hành trình về vùng trung du, bởi trước mắt bạn bây giờ là ngút mắt một màu xanh của những vườn làng nào tiêu, quế, lòn bon, thanh trà, chuối, mít vườn.... được ngăn cách với đường làng bằng những bờ chè tàu thẳng tắp. Xa xa, từng đàn cò trắng lả lơi trên những cánh đồng bậc thang như những nét chấm phá càng làm cho bức tranh quê thêm sinh động.
 
 Tiên Phước không chỉ nổi tiếng với những vườn cây đặc sản, có giá trị kinh tế cao, đã từng làm say lòng người bởi những hương vị đậm đà mang hơi hướng của miền sơn cước, mà Tiên Phước còn là quê hương của những thắng cảnh đẹp. Thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho Tiên Phước những những phong cảnh hữu tình mà gắn với nó là cả một không gian văn hóa giàu bản sắc của cư dân vùng trung du. Đến Tiên Phước, ai đó sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp đến nao lòng của dòng sông Tiên khi ánh hoàng hôn đổ về trên thị trấn. Từ trong tiềm thức mỗi người dân Tiên Phước, Sông Tiên bao đời chảy ngược đã trở thành niềm tự hào rất riêng mà không ai có thể lý giải được sự hiện hữu ấy. Có lẽ gắn với dòng sông hiền hoà thơ mộng, câu chuyện truyền thuyết về thác bố, bãi vàng và tấm thân trinh nữ của người con gái vị Sơn thần tan chảy trong dòng nước dữ, hy sinh vì sự tồn vong của muôn loài đã trở thành yếu tố tâm linh, có chỗ đứng vĩnh cửu trong trong lòng dân bản địa. Dòng Sông Tiên, con sông duy nhất ở Quảng Nam chảy ngược về núi không chỉ là “chứng nhân” lịch sử trước những bước thăng trầm của một vùng trung du, mà trên đôi bờ sông Tiên còn ẩn chúa những trầm tích của nền văn hóa nổi tiếng vào thời sơ kỳ kim khí ở miền Trung nước ta - văn hóa Sa Huỳnh (cách nay khoảng 2000- 2500 năm). Phát hiện tại các di chỉ Gò Miếu, Gò Quảng (Tiên Hà) đã phát họa sơ lược bức tranh thời tiền sử ở vùng Tiên Phước. 
 
Trên một nhánh khởi nguồn của dòng sông Tiên (đoạn sông Đá Giăng thôn 3 - Tiên Cảnh, giáp làng Lộc Yên) du khách có thể chứng kiến một cảnh phô diễn ngoạn mục của tạo hoá, một bãi đá lớn nhỏ đủ kích thước, lô nhô, chen chúc nhau tạo nên những hang, hốc lớn nhỏ hết sức thú vị, trải dài hàng trăm mét. Thời gian với sự bào mòn và lực xoáy của dòng chảy đã tạo nên trên đá những hình thù kỳ dị, khiến người xem có thể liên tưởng đến những vật dụng quen thuộc như cái cối, cái chén, cài chày, cái lò... và dấu của những bàn chân to tướng. Có lẽ đó cũng chính là duyên cớ để lưu truyền trong dân gian câu chuyện về sự tích Lò Thung, và bãi đá kia chính là minh chứng thú vị cho sự tồn tại của một vị khổng lồ đã từng sống, sinh hoạt và sản xuất các công cụ lao động trên khúc sông này.
 
Bãi đá Lò Thung với câu chuyện người khổng lồ kỳ thú đã và đang có sức hấp dẫn mãnh liệt với du khách thập phương. Tuy nhiên nếu làm một chuyến lội ngược dòng qua thị trấn Tiên Kỳ ghé về Hội An Tiên Châu du khách không những có cơ hội thăm thú các ngôi nhà cổ độc đáo ẩn mình trong không gian mượt mà của miền sơn cước mà còn có cơ hội chiêm ngưỡng màu xanh bao la của rừng thông caribe lẫn trong tiếng vi vu của gió ngàn, tiếng thác chảy xa xa. Cảm giác của một không gian hoang dã và nguyên sơ càng làm tăng thêm phần hứng khích để du khách khám phá vùng đất và con người nơi đây. Đứng trước vẻ đẹp hoang sơ nhưng không kém phần hấp dẫn của 5 tầng thác Ồ Ồ hùng vĩ, được hoà mình trong dòng nước mát của núi rừng, hay một buổi liên hoan nhẹ trên đỉnh Ồ Ồ thì không còn gì thích thú bằng. Có lẽ vì thế, mà không biết tự bao giờ Ồ Ồ Tiên Châu hay Lò Thung Tiên Cảnh đã trở thành danh thắng trong lòng dân Tiên Phước. 
 
Nét độc đáo, riêng có của vùng bán sơn địa này có thể kể đến những ngôi nhà cổ có niên đại trên 100 năm. Trong guồng quay và sự đổi thay “chóng mặt” của cơ chế thị trường, xu hướng đổi mới đang dần phá bỏ lối sống khép kín, vốn là nét đẹp trong văn hóa làng xã Việt Nam, thì người dân Tiên Phước vẫn giữ lại cho mình những ngôi nhà cổ độc đáo và tinh xảo. Đó là những ngôi nhà gỗ, được hình thành từ nguồn nguyên liệu chính là gỗ mít vườn, một loại cây ăn quả đặc sản của vùng quê Tiên Phước. Bàn tay tài hoa của các nghệ nhân phường mộc Văn Hà đã biến những cấu kiện gỗ thô cứng trở nên những tác phẩm nghệ thuật sống động, những hình ảnh rất đổi gần gũi trong cuộc sống đời thường như hoa mai, chim trĩ, Nho- sóc, Tùng - lộc…nhưng gửi gắm trong đó ý nghĩa tâm linh, khát vọng nhân sinh của con người. Tìm gặp những ngôi nhà như thế ở Tiên Phước không khó, bởi không chỉ ở Lộc Yên (Tiên Cảnh), Hội An (Tiên Châu) mà rải rác ở các làng quê Tiên Mỹ, Tiên Hiệp, ta vẫn có thể bắt gặp những ngôi nhà cổ đẹp đến “mê hồn”. Những mái ngói rêu phong trầm mình dưới tán lá rợp mát của vườn cây lưu niên, những tầng, bậc đá phẳng phiu ôm lấy những khu vườn xanh mướt mắt, những con ngõ dài dặt phẳng lì những viên đá phiến, đá cuội mòn dấu chân người... tất cả được quyện hoà trong một không gian tĩnh mịch, thôn dã - không gian văn hóa vườn nhà. Đây chính là yếu tố đặc trưng, rất “bản địa” đã và đang là niềm tự hào của người dân Tiên Phước.
 
Có thể nói người dân Tiên Phước gìn giữ những ngôi nhà cổ như gìn giữ một cái gì đó rất thiêng liêng chứ hoàn toàn không chỉ giá trị vật thể. Con người Tiên Phước vốn trọng nhân, hiếu nghĩa, chân chất, thật thà những cũng rất tinh tế trong ứng xử hàng ngày, họ không dễ dàng đem những di sản của cha ông, những di sản có giá trị nhân văn như thế để mặc cả thiệt hơn. Cụ Nguyễn Huỳnh Anh (chủ nhân một ngôi nhà cổ tại Làng Lộc Yên - Tiên Cảnh) đã hai lần từ chối lời đề nghị mua nhà của Tổng thống chế độ cũ với giá cao “ngất ngưỡng” - hành xử đó của cụ là gì nếu không nói là vẻ đẹp trong văn hóa ứng xử của người dân Tiên Phước. Và nếu không chi phối bởi văn hóa ấy, tính cách ấy, thì làm sao chỉ trong không gian hành chính của một làng, người dân Lộc Yên còn lưu giữ khá nguyên vẹn tám ngôi nhà cổ đẹp và tinh xảo, cùng với nó là những vật dụng đẹp mắt và bí ẩn mà chiếc bàn xoay chúng ta đã từng biết đến là một điển hình.
 
Cách làng Lộc Yên khoản 2 km về hướng Tây, du khách đã có thể viếng thăm một ngôi nhà cổ khá nguyên trạng, nơi sinh ra và lớn lên của nhà chí sỹ cách mạng, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - di tích lịch sử quốc gia nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng. Một ngôi nhà đẹp về kiến trúc, điêu luyện và kỹ xảo trong nghệ thuật chạm trỗ được ẩn mình trong không gian êm ả, dịu dàng của hương bưởi, hương cau, và màu xanh mát của vườn chè đã tồn tại từ bao đời, khiến cho du khách như lạc vào một thế giới xa lạ, thiêng liêng mà ở đó dường như không còn chổ cho những lo toan, hối hả của cuộc sống đời thường.    Được tham quan di tích, nhìn lại những di vật, di ảnh, bút tích và những tư liệu một thời gắn bó với nhà cách mạng, thắp một nén nhan tưởng nhớ bậc tiền bối yêu nước thương dân để thấy lòng mình được thảnh thơi, tạm quên đi những tất bậc củ cuộc sống, âu cũng là việc nên làm.   
 
Đến Tiên Phước, du khách còn có dịp tham quan những di tích văn hóa, những tên đất tên làng đã đi vào lịch sử cách mạng hào hùng của quê hương qua hai cuộc kháng chiến. Các địa danh Dốc Miếu, Nà Lầu - Tiên Thọ, Gò Nha - Dương Đế - Tiên Phong, Bàu Ông Trấn - Tiên Lộc…từng là căn cứ của nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu Cần vương kháng Pháp trong những năm đầu thế kỷ XX. Ngày nay, về Nghĩa trũng - thôn 1 Tiên Mỹ nơi những an nghỉ cuối cùng của các nghĩa sỹ, nhân dân địa phương đã xây dựng lăng đường, hàng năm tổ chức cúng tế để tưởng nhớ anh linh của các bậc tiền bối hy sinh cho Tổ quốc, giang sơn.
 
Hưởng ứng phong trào Cần Vương các hoạt động tân dân, cải cách được nhiều nhà yêu nước ở Tiên Phước khởi xướng và thực hiện đã mang lại một luồng sinh khí mới cho phong trào đấu tranh gianh độc lập, tự do cho dân tộc. Bên cạnh tên tuổi nhà chí sỹ yêu nước - nhà canh tân nổi tiếng được sử sách ghi công như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, vị “anh hùng thảo dã” Lê Cơ với câu nói bất hủ “Túng bất năng hành chi thiên hạ, do khả nghiệm chi nhất hương”, có nghĩa là “Nếu không làm được việc lớn cho thiên hạ thì cũng làm đúng trong một làng” đã có những đóng góp không nhỏ cho phong trào duy tân. Đến thôn 3 Tiên Sơn hôm nay, du khách có thể nhìn thấy di tích Nền trường tân học Phú Lâm - nơi Lê Cơ đã từng mở trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp; đây cũng là ngôi trường đầu tiên ở Việt Nam có giáo viên và học sinh nữ. Ông còn mở thương cuộc, lập nông hội... biến vùng quê heo hút trở thành “một nơi khai thông vui vẻ”. Phú Lâm trở thành mô hình đổi mới của cả nước thời bấy giờ.
 
 
Về Tiên Phước để được thả mình trong không gian hiền hoà của những làng sinh thái, được thăm thú những ngôi nhà cổ độc đáo, những thắng cảnh thiên nhiên quyến rũ của vùng trung du, để cảm nhận cái giao hoà của đất trời cây cỏ, của tình người, hẳn cũng là cái thú tao nhã, một nhu cầu tinh thần không thể thiếu của con người.
 
ĐOÀN VĂN DŨNG
Phó Chành Văn phòng HĐND&UBND
huyện Tiên Phước
Làng cổ Lộc Yên dựa lưng vào núi
 

Làng cổ Lộc Yên với những ngôi nhà cổ và nhà truyền thống đặc trưng ở Quảng Nam, ẩn hiện dưới những tán lá bốn mùa tươi xanh như bức tranh thiên nhiên hữu tình. Qua bao năm "trơ gan cùng tuế nguyệt", những ngôi nhà cổ ở Lộc Yên đã trở thành “điểm nhấn” về bảo tồn và phát huy giá trị làng cổ, nhà cổ, nhà truyền thống ở Quảng Nam. 

Nhà cổ ẩn mình dưới tán xanh
Họa sỹ Nguyễn Thượng Hỷ, cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di sản - Di tích Quảng Nam, người suốt 11 năm qua gắn bó với công việc đo vẽ, nghiên cứu tại các ngôi nhà cổ, nhà truyền thống ở Tiên Phước, cho biết: “Tiên Phước có 17 ngôi nhà cổ được khảo sát lập hồ sơ, riêng làng Lộc Yên đã có 10 nhà. Trong đó, nhà của cụ Nguyễn Huỳnh Anh, một trong 4 nhà được xếp hạng di tích ở Quảng Nam, đã trên 200 năm”.

Những ngôi nhà cổ ở làng Lộc Yên được tạo tác và dựng nên bởi sự kết hợp của đôi bàn tay tài hoa của phường thợ Văn Hà (Phú Ninh) và Kim Bồng (Hội An) xưa. Nhà được làm bằng gỗ mít, xây dựng theo kiểu "ăn chắc mặc bền", vừa làm chỗ ở, thờ cúng, vừa có nhà phụ để làm bếp, chỗ ăn nghỉ, để nông cụ sản xuất, lương thực lại vừa có sân phơi, vườn cây ăn trái.

Nhà cụ Nguyễn Huỳnh Anh xây theo bố cục nhà ba gian hai mái. Vật liệu xây nhà toàn gỗ mít, với 16 cây cột cái to, chu vi vòng cột 10 cm và 20 cây cột chung quanh. Kết cấu kèo, xuyên, trính được chạm khắc tinh tế hình tùng lộc, mai điểu, chim bướm và nhiều hoa văn thanh thoát. Trải qua thời gian, nhà cụ Nguyễn Huỳnh Anh và các ngôi nhà cổ ở Lộc Yên đã không ít lần gia cố, xây tường vôi, lợp mái mới... nhưng vẫn giữ lại được những cấu kiện gỗ bên trong. Đó như là thứ "vật gia bảo" của cha ông để lại mà lớp con cháu có trách nhiệm gìn giữ, đắp bồi.

Làng cổ Lộc Yên là điểm tham quan, du lịch sinh thái làng quê trung du hấp dẫn ở miền Trung, được nhiều người biết đến. Nhưng lâu nay, nó như "công chúa ngủ trong rừng", chưa được "đánh thức". Mỗi năm, có hàng trăm người dân trong vùng và khách thập phương đến Lộc Yên tham quan nhà cổ, dã ngoại vui chơi sau những ngày lao động, học tập vất vả.

Những ngõ làng Lộc Yên quanh co theo triền núi với nhưng hàng cau cao vút lên trời xanh, những thửa ruộng lúa xanh rờn, những còn đường lát đá dẫn lên các nhà cổ rợp bóng cây xanh, những khuông viên nhà vườn mát mẻ và đặc biệt là những người dân quê thuần hậu, chất phác, thật thà mến khách. Thế nhưng, sự tham quan du lịch của du khách vẫn chưa được ngành du lịch và địa phương cũng như cư dân làng cổ quan tâm hay có ý thức phát triển du lịch - dịch vụ nhằm khai phóng tiềm năng và "vẻ đẹp tiềm ẩn" của làng cổ với những ngôi nhà cổ.

Khách đến tham quan các nhà cổ và nhà truyền thống Quảng Nam ở Lộc Yên thường được chủ nhân các ngôi nhà tiếp đón trà nước ân cần như khách quý; đang làm đồng, nghe có khách đến là bỏ cả đấy, tất tả về nhà. Đó là bản tính có phần... "hồn nhiên" của người dân nơi đây.

Các kiến trúc sư là những chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu, trùng tu và bảo tồn nhà cổ đang làm việc cho tổ chức JICA (Nhật Bản) đã "lấy làm tiếc" vì sự "bỏ phí" của làng cổ Lộc Yên bấy lâu nay. Họ cho rằng, "các bạn đang cất giữ một kho báu của cha ông, nếu không biết cách bảo quản, sử dụng, sẽ rất uổng phí".

Bảo tồn, nâng cấp: Bài toán khó!


Làng cổ Lộc Yên hiện còn 4 ngôi nhà cổ được bảo tồn khá nguyên vẹn. Gọi là "nguyên vẹn" nhưng trên thực tế nó đã không còn "nguyên mẫu" như trước. Nhà của các ông Nguyễn Huỳnh Anh, Trần Khiêm, Đồng Viết Mão, Nguyễn Đình Mẫn ở thôn 4; nhà ông Lê Văn Hào ở thôn 5 cũng đã thay mái lá bằng mái ngói; mái đất (theo phong cách nhà mái lá - hai tầng mái: mái lợp lá (tranh) chống mưa nắng ở bên trên, mái bằng đất bên dưới để chống nóng vào mùa hè, giữ ấm vào mùa đông và có chức năng bảo vệ cấu kiện gỗ khi hỏa hoạn xảy ra) vì thế cũng bị đập bỏ; tường xây đá chắp vá. Và đáng lo nhất là có nhà cổ gần như bỏ hoang, không ai trông coi, vì chủ nhân của nó mải tìm kế mưu sinh nơi khác.

Ông Trần Khiêm (77 tuổi), là chủ nhân của ngôi nhà cổ còn giữ được mái đất và tường đất, cho biết: "Ngôi nhà này từ đời ông nội tôi xây. Đã có người dạm hỏi mua gần 300 triệu đồng nhưng tôi không bán. Ngôi nhà còn là truyền thống gia phong còn, nó không tính giá trị bằng tiền".
Ông Trần Khiêm cũng thừa nhận, việc giữ gìn (chứ không nói là "bảo tồn" như câu chữ của cơ quan chức năng - PV) nó là rất khó. Năm năm trước, nhà ông Khiêm phải dỡ bỏ mái tranh ở trên mái đất để làm mái ngói. Tiếc những rui mè bằng tre ngâm lâu ngày chắc chắn, ông để trên mái đất, dăm bữa nửa tháng lại trèo lên xem cho đỡ nhớ! Như thế, ngôi nhà mái lá cuối cùng ở Quảng Nam cũng không còn nguyên vẹn bởi thời gian tàn phá, sức chịu đựng có hạn và những khó khăn của gia chủ của nó.

Cụ Nguyễn Huỳnh Anh vừa mất cuối tháng 07/2007, hưởng thọ 93 tuổi. Lúc còn sống, cụ đặc biệt chăm lo bảo vệ, chống xuống cấp cho ngôi nhà của gia đình mình. Năm này qua tháng khác, trong nhà cụ không bao giờ thắp đèn dầu hỏa, chỉ thắp nến, vì sợ khói đèn làm hư hại các cấu kiện gỗ mít; trên nóc các kèo, cụ Anh cho treo những bó gai tre để dơi núi không có chỗ đeo bám, sợ phân dơi ảnh hưởng đến sơn thiếp, các hoa văn điêu khắc.

Nhờ "kỹ tính" như thế nên nhà của gia đình cụ Nguyễn Huỳnh Anh, đã trên 120 năm, vẫn còn giữ được nét xưa cổ kính, trở thành "một bảo tàng" về nhà ở truyền thống của đất Quảng miền Trung.

Không đủ cẩn trọng như cụ Nguyễn Huỳnh Anh, tiền của và đặc biệt là kiến thức bảo tồn nhà cổ nên chủ nhân của các ngôi nhà cổ, nhà truyền thống đều "bó tay" đứng nhìn sự xuống cấp của nó.

Họa sỹ Nguyễn Thượng Hỷ, người "mê" nhà cổ Quảng Nam, lo lắng: "Mỗi ngôi nhà cổ còn khá nguyên vẹn như ở làng Lộc Yên, được những người buôn nhà cổ trả mua đến hàng trăm triệu đồng. Rất may là chủ nhân của nó chưa bán! Nếu như không sớm trùng tu, bảo tồn, nâng cấp... thì với tốc độ xuống cấp như hiện nay, chẳng bao lâu nữa các ngôi nhà cổ sẽ đổ ập".

Trong vòng 10 năm qua, 10/17 nhà cổ do họa sỹ Nguyễn Thượng Hỷ khảo sát, kẻ vẽ lập hồ sơ đã "bay" về đâu và lúc nào thì chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cũng không ai biết.

Làng cổ thành làng du lịch sinh thái?


Đề tài khoa học "Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa quần thể nhà cổ tại làng Lộc Yên" do UBND huyện Tiên Phước phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di sản - Di tích Quảng Nam triển khai thực hiện từ cuối năm 2006, đã đánh giá nghiệm thu và triển khai thực hiện vào tháng 09/2007. Nó là tâm huyết, trách nhiệm của lãnh đạo địa phương, của các nhà nghiên cứu và niềm hi vọng của chủ nhân của những ngôi nhà cổ ở Lộc Yên.

Tuy nhiên, dự án đang ở gia đoạn nghiên cứu về "thực trạng", còn "giải pháp" về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa quần thể nhà cổ Lộc Yên còn phụ thuộc vào kinh phí, thời gian, sự phối hợp giữa ngành văn hóa và du lịch cùng nhiều, rất nhiều vấn đề liên quan khác.

Phó Chủ tịch UBND huyện Tiên Phước Phạm Văn Đốc - Chủ nhiệm Đề tài khoa học này, cho biết: "Địa phương xác định: Làng cổ Lộc Yên là di sản văn hóa đã tồn tại hàng trăm năm nay. Bảo tồn và phát triển giá trị làng cổ song song với việc phát triển du lịch bền vững, sẽ vừa giữ được làng cổ, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của cư dân trong làng. Hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học về quần thể nhà cổ ở làng Lộc Yên là bước quan trọng trong lộ trình này, tiếp theo là huy động mọi nguồn lực để triển khai thực hiện dự án".

Ông Phạm Văn Đốc cho rằng, bảo tồn phát triển giá trị văn hóa nhà cổ, đưa làng cổ Lộc Yên trở thành điểm du lịch hấp dẫn trong điều kiện hiện nay là rất khó khăn. Địa phương có thừa quyết tâm những cũng thiếu rất nhiều "điều kiện" để thực hiện.
Hơn 10 năm tái lập, tỉnh Quảng Nam cũng đã nói nhiều về trùng tu, bảo tồn và xem làng cổ, nhà cổ là những di sản - di tích văn hóa - lịch sử - kiến trúc và là vốn quý của truyền thống văn hóa mang bản sắc đặc trưng của Quảng Nam. Thế nhưng, bao năm nay nhà cổ vẫn xuống cấp mà không được sự hỗ trợ nào. Tư nhân lùng sục ráo riết để mua nhà cổ. Và nạn "chảy máu" nhà cổ đang âm thầm xảy ra ở khắp các làng quê Quảng Nam. Nguyên nhân được cho là "lực bất tòng tâm", vì tỉnh Quảng Nam còn nghèo, không có kinh phí đầu tư cho trùng tu, bảo tồn, nâng cấp nhà cổ, trong đó có làng cổ Lộc Yên.

Phó Giám đốc Sở VHTT Quảng Nam Hồ Xuân Tịnh, cho biết: "Ngôi nhà cổ càng tăng thêm giá trị khi nó nằm trong quần thể không gian văn hóa. Làng cổ Lộc Yên hội đủ các yếu tố đó, vì nó vừa có nhà cổ, nhà rường truyền thống Quảng Nam, trong không gian làng quê trung du thoáng đãng và con người nơi ấy rất tuyệt vời. Với trách nhiệm cơ quan quản lý văn hóa, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, lập hồ sơ, vận động các gia đình gìn giữ các ngôi nhà cổ. Nhà nước chưa có giải pháp cụ thể nào cho việc bảo tồn, phát huy giá trị nhà cổ. Với một tỉnh còn nhiều khó khăn như Quảng Nam, chúng tôi chỉ biết kêu gọi bảo tồn làng cổ, nhà cổ, đặc biệt là làng cổ Lộc Yên theo hướng xã hội hóa: Nhà nước, địa phương và nhân dân cùng chung tay giữ gìn và phát triển giá trị nhà cổ".

Theo ông Hồ Xuân Tịnh, những ngôi nhà cổ chưa xếp hạng di tích thì mặc nhiên, chủ nhân của nó có quyền sửa chữa, dỡ bỏ kết cấu, bán, cho, tặng... Làng cổ Lộc Yên ngày càng xuống cấp và "chảy máu" nhà cổ, bất cứ ai quan tâm cũng thấy xót. Phát triển du lịch, tạo điều kiện cho cư dân nhà cổ phát triển thêm các dịch vụ, trên cơ sở có định hướng, quy hoạch bài bản cũng là một giải pháp tích cực trong bảo tồn, phát huy giá trị làng cổ Lộc Yên.

Về phía cơ quan chủ quản du lịch, Giám đốc Sở Du lịch Quảng Nam Đinh Hài, cho biết: "Thời gian qua, đã có 5 công ty lữ hành lớn ở khu vực miền Trung liên hệ với ngành du lịch Quảng Nam mở các tour về làng cổ Lộc Yên - Tiên Phước.

Ngoài ra, còn có nhiều "đơn đặt hàng" khác của du khách. Sở Du lịch Quảng Nam vừa có cuộc khảo sát tại làng cổ Lộc Yên. Nơi đây rất có tiềm năng phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái làng quê... Để làng cổ Lộc Yên được đưa vào tour du lịch thì phải đầu tư cơ sở hạ tấng, tăng cường các dịch vụ, quản lý bảo tồn, trang bị kỹ năng, cách làm du lịch cho cư dân làng cổ.

Làng cổ Lộc Yên - Quảng Nam đang đặt ra những vấn đề bức xúc về quản lý, bảo tồn, phát triển du lịch bền vững trước nạn "xâm thực" của thời gian và nhân gian trong cơ chế thị trường hiện nay. Bao nhiêu năm dựa lưng vào núi, những ngôi nhà cổ ở Lộc Yên đã trụ vững trước thiên tai, chiến tranh và những bất chợt của đời người.

Một tour du lịch về làng cổ du khách có dịp ghé thăm nhà lưu niệm chí sỹ Huỳnh Thúc Kháng, được tắm mình trên sông Tiên nước chảy ngược dòng và được thưởng thức các món đặc sản như lòn bon, mít mật, chuối tiêu, ốc đá, nước chè xanh... ở vùng trung du bán sơn địa phong cảnh thơ mộng,
Bài và ảnh: Lê Trịnh