Bùi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Bùi là một tên họ phổ biến thứ 9 trong hơn 200 dòng họ ở Việt Nam [1].

Mục lục

[ẩn]

[sửa] Lịch sử

Họ Bùi là dòng họ có lịch sử rất lâu đời tại Việt Nam[2]. Họ Bùi đã được biết đến từ 2300 năm trước, vì người ta đã tìm thấy một bài vị biên chép về lịch sử của vua Lê Đại Hành trong đó có ghi: "vào năm 257 trước Công nguyên, nhà Thục xâm chiếm nước ta, có 4 dòng họ gồm: Ngô tộc, Bùi tộc, Lê tộc, Trần tộc được vua Hùng (Duệ Vương) triệu tập 4 vị Đại Thần cùng 5000 binh mã đã đánh thắng trận đầu, giặc bị tiêu diệt máu chảy thành sông vang dội núi sông."

Thời Hai Bà Trưng có 2 danh tướng là Bùi Thạch ĐaBùi Thạch Đê vì lăng mộ hiện vẫn tồn tại suốt gần 2.000 năm nay trên vùng đất tổ Hùng Vương, ở Tam Nông, Phú Thọ.

Thời vua Đinh Tiên Hoàng (968-979) có khai quốc công thần Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng.

Tháng 2 năm 1304 (Giáp Thìn), Mộc Đạc tên là Phí Minh Đạo là người có tài năng. Thượng Hoàng cho rằng họ Phí từ xưa không thấy có, mới đổi làm họ Bùi. Lấy Bùi Mộc Đạc làm Chi hậu bạ thư chánh chưởng trông coi Cung Thánh Từ. Cái tên "Mộc Lạc" là điềm chẳng may mới đổi thành "Mộc Đạc", và ông theo hầu ngày đêm. Sau này người họ Phí hâm mộ danh tiếng của Mộc Đạc nên nhiều người đổi thành họ Bùi[3].

Thời vua Lê Lợi (đầu thế kỉ 15) có 2 vị khai quốc công thần là Hương thượng hầu – Thái phó Trang Quốc công Bùi Quốc Hưng và Ngự sử Đại thần Bùi Cầm Hổ (1390–1483), ngự sử cao nhất triều. Bùi Cẩm Hổ là thái sư dạy học cho con trưởng của Lê Lợi là vua Lê Thái Tông; con gái Bùi Cẩm Hổ là Bùi Quý Phi, vợ của vua Lê Thái Tông, sinh ra cung vương Lê Khắc Xương.

Thế kỉ 16 có danh tướng văn võ song toàn Bùi Tá Hán (1496–1568). Bùi Tá Hán là một cận thần của đại thần Nguyễn Kim (cha của Nguyễn Hoàng) có công khôi phục triều Lê Trang Tông (năm 1533).

Tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, mở khoa thi đầu tiên (năm 1075) lấy 4 vị tiến sĩ thì có 1 vị họ Bùi. Từ đó đến cuối triều nhà Nguyễn, trải qua 10 thế kỉ về khoa bảng, họ Bùi có đến 76 vị tiến sĩ, trong đó có 4 vị là bảng nhãn (học hàm kế sau trạng nguyên) và một vị trạng nguyên là Bùi Quốc Khái.

Thời cận đại có Bùi Huy Bích (1744) cháu 7 đời của Bùi Xương Trạch. Bố của Bùi Xương Trạch ở xã Cát Xuyên, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá chuyển sang làng Định Công, Hà Nội, sau đó chuyển sang Thịnh Liệt sinh sống, lập nghiệp, lập nên gia tộc họ Bùi làng Thịnh Liệt, còn được gọi là Sơn Nam vọng tộc. Bùi Dương Lịch (1757–1828) là nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời Tây Sơn và nhà Nguyễn. Ông đỗ Hương cống năm 17 tuổi, đỗ Hoàng giáp năm 30 tuổi. Con trai ông là Bùi Thức Kiên cũng đỗ Hoàng giáp.

Ở miền bắc Việt Nam dân tộc Mường cũng có họ Bùi. Các tỉnh có dòng họ như: Gia tộc họ Bùi làng Thịnh Liệt, dòng họ Bùi ở Quảng Ninh, Quảng Nam - Đà Nẵng... Hàng năm trên website họ Bùi có xuất bản tạp chí nội bộ có tên Thông tin họ Bùi Việt Nam để qua đó nêu gương những người đỗ đạt hoặc có đóng góp nhiều cho xã hội[4].

[sửa] Một số nhân vật nổi tiếng

[sửa] Xem thêm

[sửa] Chú thích

  1. ^ Theo cuốn Họ và Tên người Việt Nam của Lê Trung Hoa (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005), họ Bùi là họ phổ biến thứ 9 ở Việt Nam
  2. ^ Dòng họ hậu duệ của vua Lê Lợi ở Thượng trưng
  3. ^ "Thẩm hình viện sự Bùi Mộc Đạc"
  4. ^ Thông tin họ Bùi Việt Nam online

[sửa] Liên kết ngoài

Dòng họ hậu duệ của vua Lê Lợi ở Thượng Trưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Dòng họ Bùi[1] ngày nay ở xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là dòng hậu duệ của vua Lê Lợi[2].

Mục lục

[ẩn]

[sửa] Sự hình thành dòng họ

Theo gia phả đang lưu trữ thì cụ sơ tổ của dòng họ này là Lê Chân, con của Cung vương Lê Khắc Xương, cháu của Lê Nguyên Long, chắt của Lê Lợi. Vua Lê Thánh Tông đổi họ cho Cung vương Lê Khắc Xương sang họ bùi, Lê Chân là con của Lê Khắc Xương được mang họ Bùi gọi là Bùi Chân. Bùi Chân về ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc tới nay đã 527 năm (1480-2007), hình thành ra một dòng họ Bùi là hậu duệ của Lê Lợi ở đây.

[sửa] Đổi sang họ Bùi

Phạm Thị Ngọc Trần, vợ thứ hai của Lê Lợi, sinh ra Lê Nguyên Long ngày 20 tháng 11 Quý Mão (1423). Bà mất ngày 24 tháng 3 năm Ất Tỵ (1425), khi đó Nguyên Long mới 3 tuổi. Nguyên Long được giao cho Giám quan Bùi Cầm Hổ nuôi dạy. Sau này Nguyên Long lên ngôi (Lê Thái Tông) đã lấy con gái giám quan Bùi Cầm Hổ để trả cái ơn đó. Lê Thái Tông và thần phi Bùi Quý nhân sinh ra Cung vương Lê Khắc Xương ngày 4 tháng 5 năm Canh Thân (1440).

Lê Thái Tông có bốn người con trai với bốn bà cung phi là:

Năm Nhâm Tuất (1442), Lê Thái Tông bị cảm, băng hà tại Lệ Chi Viên, Lê Băng Cơ mới 2 tuổi được lên ngôi hoàng đế, tức là vua Lê Nhân Tông. Vì là dòng đích mà không được lên ngôi nên mùa đông năm Kỷ Mão (1459) Lê Nghi Dân đã giết vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, tự mình lên làm vua và phong cho em là Lê Khắc Xương làm Cung vương, và Lê Tư Thành là Gia vương.

Các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết phản nghịch giáng Nghi Dân xuống tước Hầu. Trong triều có người muốn đưa Lê Tư Thành lên làm vua, quan Tư Đồ Lê Lăng can rằng: Lê Tư Thành còn có người anh là Lê Khắc Xương, không nên bỏ anh lập em để lại dẫm vào vết xe đổ Băng Cơ - Nghi Dân. Ngày 7 tháng 6 Canh Thìn (1460) quan tư đồ Lê Lăng cùng triều thần đến đón Cung vuơng Lê Khắc Xương tôn lập hoàng đế, nhưng Lê Khắc Xương đã khước từ. Triều thần liền tôn lập Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Sau khi lên ngôi Lê Thánh tông không hài lòng về chuyện này nên đã gán tội giết chết quan tư đồ Lê Lăng, bức hại cung vương Lê Khắc Xương[3]. Lê khắc Xương có người con trai duy nhất là Lê Chân[4].

Nhân chuyện quan Ngự sử Bùi Cầm Hổ có liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên, nên năm Kỷ Hợi (1479), khi xét lại vụ án này và minh oan cho các trung thần bị hại, vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu truy liệt cho Ngự sử, như sau:

Công sử Ngự - Nhân minh quang đại hiếu-Trung liệt
Toa qua nghị giáo trừng Tiên Đế-trĩ đồng từ
Vân thiên quang - đạt Lý đức hiền nhân - Tuấn khuê
Kim huynh Vương - Phụng đức trung Bùi Tính.
Cửu truyền lưu nhân chí - Thấu quốc Đế Nhân tứ tông - tỳ phương.

Nghĩa là: "Ngự sử công Bùi Cầm Hổ thực là Đại thần trung liệt đã đùm bọc và nuôi dạy Tiên đế ta từ thuở ấu thơ. Nay được đèn trời soi tỏ đức hạnh của người sáng như sao Khuê. Từ nay huynh Vương được đặc ân mang họ Bùi để mãi mãi tỏ rõ lòng ân quốc tính của Tiên Đế đối với dòng dõi người oan khuất".

Như vậy Vua Lê Thánh Tông đã đổi họ cho anh của mình là cung vương Lê Khắc Xương sang họ Bùi, thực chất là loại bỏ dòng dõi hoàng tộc của Lê Khắc Xương.

[sửa] Sự định hình và phát triển

Năm Canh Tý (1480), Lê Chân (lúc này là Bùi Chân) đưa bà và mẹ về quê ngoại là làng Thượng Trưng phủ Bạch Hạc trấn Sơn Tây, nay là xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc. Vào thời nhà Mạc, Đức trai Bùi Hoằng là hậu duệ đời thứ 3 Bùi Chân, đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 9 (1538) đời vua Mạc Đăng Doanh, đã hiến cho Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung kế sách giải pháp hoà bình trước sự thúc ép của nhà Minh. Tháng 8 năm Canh Tý (1540) Mạc Đăng Doanh tặng cho Tiến sĩ Bùi Hoằng "Kim tử vinh lộc đại phu" lấy chữ "Thủ" làm gương, và phong tước An Thủy bá. Vua Mạc tặng:

Tiến sĩ Bùi Hoằng An thủy bá là Thủ Ước
Hiển đức khảo tiên liệt Đức Nghị là Thủ Chính
Hiển đức tổ khảo tiên liệt là Thủ Chân.

Từ đây Lê Chân được gọi là Bùi Thủ Chân, là sơ tổ của dòng họ[5]. Họ Bùi là hậu duệ của Lê Lợi hiện nay đang tồn tại và phát triển ở Thượng Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc và hai nhánh ở Tiểu Quan, Phùng Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên và Gia Viễn, Hoa Lư, Ninh Bình.

[sửa] Một số khoa bảng

Theo gia phả thì dòng họ này có 5 tiến sĩ đại khoa, hiện nay tìm và khớp được với 3 bia trong Văn miếu và có trong sách "Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam"[6] gồm:

  • Bùi Hoằng: 33 tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) Khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại chính 9 (1538) đời Mạc Đăng Doanh, làm quan đến Thừa chính sứ tước An Thủy bá.
  • Bùi Công Tốn: 37 tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) Khoa Ất Sửu niên hiệu Chính hòa 6(1685) đời vua Lê Hy Tông.
  • Bùi Quang Vận: 28 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Dương Đức 2 (1673) đời Lê Gia Tông làm quan đến chức Giám sát, Ngự sử.

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Hiếu học và khuyến học của dòng họ Bùi
  2. ^ Gia phả của dòng họ này có sách "Bùi Gia Bảo Thủ Chân Thế Phả" do Quang Viễn Thọ Lộc Hầu (hậu duệ đời thứ 5 của Lê Chân tức Bùi Thủ Chân) viết năm 1615. Bùi Công Tốn Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Sửu niên hiệu Chính Hoà thứ 6 đời vua Lê Hy Tông 1685 (hậu duệ đời thứ 7 Bùi Thủ Chân) viết kế tục. Đến Lương Công bộ Thận Trai ngự sử triều Lê Hiển Tông (hậu duệ đời thứ 12 Bùi Thủ Chân) kế tục tiếp theo.
  3. ^ Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, trang 540
  4. ^ Có sách chép rằng Cung vương Lê Khắc Xương còn có người con nữa là Tĩnh Tu công (Lê) Lộc. Ông này có 2 con nghe nghịch thần dựng lên làm phản, bị Mạc Đăng Dung giết.
  5. ^ Thời phong kiến được vua ban cho chữ là điều vinh hạnh, vua Mạc Đăng Doanh tặng cho Bùi Hoằng và 2 đời (Tổ khảo và Khảo) chữ "Thủ". Bùi Chân được ban thêm chữ Thủ là Bùi Thủ Chân.
  6. ^ http://www.vinabook.com/product/product_detail.php?product_id=19799 Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam
NIỀM VUI VỚI DẤU ẤN 1000 NĂM THĂNG LONG- HÀ NỘI 28.09.2010 14:17 | In ra | Đóng Năm 2010, đất nước ta có nhiều ngày kỷ niệm lớn, kỷ niệm 65 năm cách mạng tháng tám và Quốc Khánh 2-9 (1945-2010), kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (1930-2010) và đặc biệt là kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Lễ hội trọng đại này cũng là dịp để làm đậm thêm dấu ấn lịch sử 1000 năm lắng hồn núi sông của đế đô Thăng Long – Hà Nội, quảng bá những thành tựu trong công cuộc đổi mới, hội nhập của đất nước ta trong những năm qua ngày càng thu được những kết quả to lớn, kỳ diệu, làm thay đổi vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, đưa Tổ quốc ta như một con tàu đang hướng ra biển lớn. Hòa chung trong không khí niền vui, niềm tự hào đó, tháng 3 năm 2010, Thường Trực BLL họ Bùi Việt Nam đã phối hợp với Báo Người Hà Nội quyết định tổ chức Hội thảo khoa học “HỌ BÙI VIỆT NAM VỚI 1000 NĂM THĂNG LONG - HÀ NỘI ”. Nhằm tôn vinh các danh nhân họ Bùi đã có nhiều công lao đóng góp vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước qua các triều đại, lịch sử Thủ đô - Việt Nam ngàn năm văn hiến (1010-2010). Cũng là dịp ngàn năm một thuở, để hậu dệ họ Bùi trong nước và nước ngoài về dự Hội thảo dâng nén tâm nhang lên các bậc tiền nhân của dòng Họ trong ngày vui Đại Lễ. Hoạt động Hội thảo của họ cũng là một trong những hoạt động thiết thực góp phần làm phong phú thêm các hoạt động hướng về đại lễ ngàn năm; đồng thời động viên con cháu dòng Họ thêm niền tự hào, phấn khởi, nỗ lực phấn đấu vươn lên, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN; xứng đáng là con cháu họ Bùi được tiếp bước cha ông trên con đường vẻ vang ngàn năm đất Việt. Để Hội thảo đạt được mục đích yêu cầu và những mong muốn ban đầu đề ra, ngay từ đầu Thường trực – BLL đã xác định Hội thảo lần này chỉ đề cập đến các vị danh nhân họ Bùi đã gắn bó với đế đô Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử, còn các vị danh nhân khác của dòng Họ xin được đề cập vào một dịp khác. Địa điểm hội thảo là Văn Miếu Quốc Tử - Hà Nội, đây là địa điểm duy nhất được lựa chọn.Vì nơi đây là nơi hộ tụ các “hiền tài nguyên khí quốc gia” của muôn đời, hơn nữa nơi đây dòng họ Bùi tự hào còn có 59 vị hiền minh tiến sĩ, cùng với các vị tiến sĩ khác của trăm họ được cả nước hương khói phụng thờ. Sau sáu tháng dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ chuẩn bị mọi mặt, ngày 22 tháng 8 năm 2010, Hội thảo đã khai mạc trọng thể tại nhà Thái Học –Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội. Về dự Hội thảo khoa học có 14 vị giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, tướng lĩnh của các chuyên ngành lịch sử, các viện nghiên cứu, viện chiến lược, học viện, Trung Tâm UNSCO, các trường đại học hàng đầu trong nước tham luận. Trong đó có những học giả nổi tiếng là cây đại thụ của cả nước như giáo sư Vũ Khiêu, 95 tuổi. Nhà sử học Đinh Xuân Lâm, Phó Giáo sư- Thiếu tướng Viện Trưởng Viện Chiến Lược Bộ Công An, Lê Văn Cương và nhiều nhà khoa học khác. Về dự còn có Đại biểu của Ban Tổ Chức Đại Lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Đại biểu của các Viện Hán Nôm, Viện Dân Tộc Học, Viện Sử Học, Sở Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, Viện Lịch Sử Quân Sự Bộ Quốc Phòng, Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng, Phó chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị - Bộ Quốc Phòng, Phó giám đốc Văn Miếu Quốc Tử Giám và nhiều quan khách là khách mời của Hội thảo. Đến dự và đưa tin về Hội thảo còn có 12 cơ quan thông tấn báo chí Phát thanh và Truyền hình của Trung ương và Hà Nội. Lần đầu tiên dòng Họ tổ chức Hội thảo ở cấp toàn quốc, về lịch sử danh nhân họ mình đã thu hút được sự chú ý và ủng hộ sâu rộng của bà con ở mọi miền đất nước và bà con họ Bùi chúng ta ở nước ngoài. Đặc biệt là Đoàn đại biểu gồm 5 người của bà con họ Bùi ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi có măt trước vài ngày Hội thảo đã làm cả hội trường xúc động và nhiệt liệt hoan nghênh. Dù Hội trường chỉ có hai trăm chỗ ngồi, nhưng Ban tổ chức đã thuê thêm nhà bạt, kê ghế ra ngoài sân để có chỗ cho hơn 400 bà con tham dự lắng nghe từ đầu đến cuối buổi Hội thảo. Sự trân trọng đó đã khích lệ các vị báo cáo viên tham luận, phản ánh nét đẹp, nét văn háo nhân văn của người họ Bùi ở nơi tôn nghiêm minh triết của nước nhà. Mở đầu Hội thảo là Lễ dâng hương quả phẩm, tinh khiết, tâm thành kính cáo các vị tiên thánh, tiên hiền khai nguồn đạo học, các vị thủy tổ, viễn tổ, tiên tổ, danh nhân họ Bùi, cùng các vị thánh hiền danh nhân văn hóa nước nhà, do giáo sư, tiến sĩ khoa học, nhà giáo nhân dân, Thiếu tướng- anh hùng lực lượng Vũ Trang Bùi Đại, Chủ tịch HĐTL họ Bùi Việt Nam làm Chu Lễ. Giáo sư, thiếu tướng Bùi Phan Kỳ - Trưởng ban liên lạc đọc Chúc Văn (xin đọc toàn văn bài Chúc Văn đăng cùng số báo này). Giọng đọc hòa quyện với khói trầm hương ghi gút, ngân vang cùng tiếng chiêng, tiếng trống điểm nhịp như hiện về từ cõi thiêng liêng sâu thẳm hồn ông cha cùng con cháu sum vầy trong ngày vui họp mặt. Sau lễ dâng hương, ông Bùi Liên, Phó ban liên lạc thay mặt cho Thường trực đọc Diễn Văn khai mạc Hội thảo. Diễn văn nêu rõ mục đích ý nghĩa, yêu cầu, khát vọng của bà con dòng tộc mong muốn kết nối, tìm hiểu về ngồn gốc dòng họ, lịch sử cha ông qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của của dân tộc. Ông cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các giáo sư, nhà khoa học, các vị đại biểu, phóng viên báo chí phát thanh và truyền hình đến dự và đưa tin về hội thảo; ông nhiệt liệt chào mừng các cụ phụ lão, bà con cô bác, cá nhà khoa học, nhiều vị tướng lĩnh trong Họ, cán bộ một số tỉnh, thành, giám đốc nhiều doanh nghiệp, các anh chị và con cháu ở khắp nơi trong Nam ngoài Bắc, các tỉnh vùng cao và bà con hải đảo xa xôi đã có mặt từ rất sớm, đã đông đủ để tiếp thêm sức mạnh cho Hội thảo thành công tốt đẹp. Hội thảo đã trân trọng mời Giáo sư - Vũ Khiêu; Giáo sư- Đinh Xuân Lâm; giáo sư- Bùi Phan Kỳ, Trưởng ban LL; Giáo sư- Bùi Đại, Chủ tịch HĐTL; Phó giáo sư Bùi Xuân Đính tham gia Đoàn Chủ Tịch. Mở đầu Hội thảo, Phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Xuân Đính thay mặt cho Ban tổ chức trình bày Báo cáo đề dẫn, Phó giáo sư đã khái quát sâu vai trò, công lao đóng góp của những danh nhân họ Bùi trong các triều đại; đồng thời làm rõ thời gian, sự kiện để các tham luận đi sâu phân tích, làm rõ thêm thân thế sự nghiệp của các danh nhân dòng họ đối với ngàn năm - Thăng Long – Hà Nội. Sau phần đề dẫn, Giáo sư Vũ Khiêu đã trân trọng tặng họ Bùi đôi câu đối: (TỰ CỔ HƯNG GIA, VĂN VÕ SONG TOÀN LƯU SỰ NGHIỆP/ CHÍ KIM SỰ QUỐC,ĐỨC TÀI KIÊM BỊ HIỂN THANH DANH). Tiếp đó tham luận của Giáo sư nêu bật nhân cách tài ba, trí dũng, đức độ, lòng thủy chung với dân, với nước, bạn bè đồng nghiệp của người họ Bùi mà Giáo sư đã tiếp cận qua lịch sử và thực tiễn trong cuộc sống như Thượng tướng Bùi Thiện Ngộ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và nhiều cán bộ họ Bùi khác, đã để lại trong ông những ấn tượng tốt đẹp về con người về sự nghiệp. Đó là những ngươi mà Giáo sư không bao giờ quên, vì ở họ luôn toát ra một cái gì đó rất cao cả, rất người, thấm đẫm chất văn hóa cao đẹp nhân quần của người Việt Nam. Về hiền tài Giáo sư nói, “đất nước không bao giờ thiếu hiền tài, họ Bùi không bao giờ thiếu hiền tài, trăm họ cũng vậy. Nhưng những hiền tài người họ Bùi ở mọi thời đại trong lịch sử và đương đại, họ đều đã có công lao đóng góp lớn cho đất nước. Vai trò lịch sử của họ có triều đại đã là rường cột của nước nhà, di sản văn hóa của tiến sĩ Bùi Huy Bích và nhiều danh nhân họ Bùi để lại mãi còn tỏa sáng với non sông đất nước chúng ta”. Trong buổi Hội thảo này, Giáo sư đã tranh thủ trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình VCVTV1O về nét đẹp văn hóa họ Bùi. Giáo sư Đinh Xuân Lâm (Đại học Quốc gia Hà Nội), tham luận về Nhà văn thân yêu nước Bùi Dị với sự nghiệp chống thưc dân Pháp, bảo vệ Hà Nội cuối thế kỷ XIX. Trong bài viết Giáo sư đã làm rõ và đậm nét về thân thế sự nghiệp của Nhà văn thân yêu nước cuối thế kỷ XIX và những thăng trầm lịch sử gắn liền với cuộc đời của nhà yêu nước Bùi Dị. Mặc dù triều chính thời Nguyễn lúc đó có những nhượng bộ nhất định với Pháp, nhưng ông vẫn nuôi chí lớn, chờ thời cơ xuất hiện để cùng nhân dân đứng lên tiêu diệt quân Pháp xâm lược. Rồi thời cơ xuất hiện, năm 1882 thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai, Bùi Văn Dị đã dâng sớ lên triều đình xin đánh giặc. Nhưng cũng phải chờ đến khi ông được bổ làm Khâm Sai Phó kinh Lược Sứ Bắc Kỳ, trực tiếp cầm quân ra Bắc mới có cơ hội tiêu diệt địch, bảo vệ thành Hà Nội và các tỉnh xung quanh. Mặc dù chiến thắng của ông chưa làm quân Pháp từ bỏ ý đồ xâm chiếm Bắc Kỳ và dã tâm xâm lược đô hộ lâu dài, nhưng nó vang lên trong lòng nhân dân một tinh thần yêu nước, chống nô dịch của thực dân. Nó để lại một ngọn cờ lộng gió của một quan văn, một nhà nho yêu nước cầm quân đánh giặc. Bùi Văn Dị chống Pháp, đánh Pháp trong lúc triều đình nhu nhược, thậm chí thân Pháp. Pháp muốn vua loại ông ra khỏi triều đình, nhưng vì ông có tài lương đống nên vua Đồng Khánh sau này vẫn phải tin dùng. Chính cơ hội đó đã tạo cho ông có đủ thời gian viết và để lại nhiều tác phẩm Văn thơ cho đời; "trong đó phải nhắc tới Bộ Đại Nam Thực Lục (Đệ tứ kỷ). Đó là những tác phẩm đượm tinh thần yêu nước, chống xâm lược, thể hiện một ý thức trách nhiệm cao cả đối với dân với nước, mà ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự của nó. Phó giáo sư, Thiếu tướng, Viện trưởng viện chiến lược khoa học Bộ Công an, Lê Văn Cương tham luận (Họ Bùi trong sự nghiệp xây dưng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam). Bài viết của Thiếu tướng ngắn gọn cô đọng, mang tính thực tiễn và giá tri học thuật cao. “Trong số hàng ngàn hàng vạn người con ưu tú của dân tộc Việt Nam từ thời đại Hùng Vương đến thời đai Hồ Chí Minh, có hàng triệu người mang họ Bùi. Họ là các danh tướng, danh sĩ, nhà khoa học, nhà yêu nước; đã quên mình vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp và những tấm gương sáng về nhân cách của những người con ưu tú họ Bùi còn có ý nghĩa thời sự không chỉ đối với con cháu, hậu duệ họ Bùi, mà còn đối với cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là những người có trọng trách với đất nước hôm nay... Xin nêu tấm gương tiêu biểu. Danh tướng Bùi Ban đã lập chiến công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược dưới cờ của Lê Lợi. Nhà yêu nước và là môn sinh, đồng chí của Phan Bội Châu, Bùi Chính Lộ đã trọn đời hy sinh vì sự nghiệp chống xâm lược Pháp. Bùi Điều đã cùng Mai Xuân Thưởng – võ tướng khởi nghĩa chống Pháp trên địa bàn rộng lớn Nam Trung Bộ, từ Bình Định vào Bình Thuận. Nhà văn, nhà giáo, nhà báo Bùi Nguyễn Khiết đã xung phong ra trận và anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược 17 tháng 2 năm 1979 ở tuổi 36. Nổi bật là thời đại Tây Sơn là nữ tướng Bùi Thị Xuân, về trí tuệ, về tiết khí, về phẩm hạnh và công lao đói với Tổ quốc, được nhân dân vinh danh”. Sau khi phân tích nhiều tấm gương tiêu biểu khác Thiếu tướng đề cập tới nhân cách người họ Bùi trong chốn quan trường, trong hàng triệu thậm chí hàng chục triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vì trường tồn của dân tộc Việt Nam. Nhưng chỉ có vài trăm quan thanh liêm, chính trực không sợ uy quyền, không sợ mất chỗ ngồi nơi công đường, dám can gián vua để giữ yên xã tắc. Họ để lại tấm gương sáng cho muôn đời. Trong số ít những người con ưu tú, siêu việt đó có nhiều người mang họ Bùi. Ví như Bùi Cầm Hổ, Bùi Sĩ Tiêm, Bùi Dục Tài, Bùi Sĩ Liêm. Họ là những vì sao đất nước, vậy tại sao không có một trường học nào mang tên những danh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân? Vì lẽ đó tôi đề nghị một là, Hà Nội cần có đường phố mang tên Bùi Viện và các trung thần Bùi Cầm Hổ, Bùi Dục Tài và Bùi Sĩ Tiêm. Hai là, BLL họ Bùi Việt Nam cần tập hợp tài liệu, biên tập một cuốn sách về họ Bùi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, phát hành rộng rãi. Ba là, các cơ quan của Đảng và Nhà nước (ở cấp quyết định) cần chi đạo biên soạn chuyên đề “Khí tiết quan trường ngàn năm soi tỏ” đưa vào phần cứng giảng dạy ở các trường trung cao cấp chính trị. Các danh nhân Chu Văn An, Bùi Cầm Hổ, Bùi Dục Tài, Bùi Sĩ Tiêm, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện phải là nội dung chính của chuyên đề này." Thiếu tướng kết thúc bài nói trong tiếng vỗ tay vang dội cả Hội trường. Còn 11 báo cáo tiếp theo của các nhà khoa học, báo cáo nào cũng hàm xúc sâu sắc làm phát lộ nhiều vấn đề mới mẻ về tư liệu sự kiện, thời gian và những người con ưu tú của họ Bùi trong lịch sử Việt Nam. Hội thảo đã khép lại, nhưng dư âm của nó còn vang vọng mãi trong lòng người họ Bùi chúng ta và bạn bè, nó để lại một dấu ấn đẹp, đậm nét trước thềm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. (Ghi chép từ Hội thảo HỌ BÙI VỚI 1000 NĂM THĂNG LONG – HÀ NỘI ngày 22/8/ 2010 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Bí mật ngôi mộ cổ: Chiếc "chìa khoá vàng" 2:50, 01/11/2010 -------------------------------------------------------------------------------- Tảng đá có lỗ nguyên là la bàn đi biển của bà Bùi Thị Hý. Lưu để đọc sau Email bài này In trang này In bài này Ý kiến của bạn Liên hệ đăng lại bài 10 bài được đọc nhiều nhất Trong khi việc giải mã 4 chữ cuối trên chiếc bình hoa lam triệu đô vẫn giậm chân tại chỗ theo xu hướng "sư nói sư phải, vãi nói vãi hay" thì chiều 29/5/2006 là ngày tìm được chiếc "chìa khóa vàng" để giải mã vấn đề trên. Khi đó ông Tăng Bá Hoành - Chủ tịch Hội Sử học Hải Dương nhận được 7 trang gia phả của gia tộc nữ tài Bùi Thị Hý, ở trang Quang Ánh, huyện Gia Phúc, nay là thôn Quang Tiền, xã Hồng Quang, huyện Gia Lộc (Hải Dương) do ông Bùi Xuân Nhạn và Bùi Đức Lợi là hậu duệ cung cấp. Dưới đây là bản dịch: "Tháng giêng, đầu xuân, năm Bảo Đại Nhâm Thân (1932), hậu duệ 13 đời của họ là Lý trưởng Bùi Đức Nhuận, sao y như bản cổ. Thủy tổ là Bùi Đình Nghĩa, nguyên ở ẩn ở đất Minh Ngọc, Nam Xang, Bình Lục, Hà Nam, sinh năm Đinh Mão, thời Trần Đế Hiện Đại Vương, niên hiệu Xương Phù 11 (1387). Ông là con tướng quân Bùi Quốc Hưng, người phù tá Lê Thái Tổ bình giặc Ngô (Minh), nguyên quán ở làng Cống Khê, tổng Bột Xuyên, huyện Chương Đức, tỉnh Sơn Tây, nhập cư làng Quang Ánh năm Đinh Hợi, thời Trần Giản Định Vương, niên hiệu Hưng Khánh thứ nhất (1407). Ông bà sinh 2 người con tại Quang Ánh: Con thứ nhất là Bùi Thị Hý; không có con nối, bà là người thợ có tài làm bình gốm. Con thứ hai là Bùi Đình Khởi, sinh năm Quý Mão, thời Bình Định Vương năm thứ (1423). Thủy tổ Bùi Đình Nghĩa là người có chí lớn, dũng cảm, có tài phi ngựa, nổi tiếng mưu trí. Khi đất nước có biến, tổ phụng sự tổ quốc, tòng quân, khi lâm trận thì đi đầu đạo quân, khi vỡ trận thành Đông Quan, người chiến đấu oanh liệt, hy sinh lẫm liệt về sau không tìm được mộ táng. Thủy tổ có công lớn trong chiến trận, sau được Lê Thái Tổ điểm công danh, ban lộc quan điền 55 mẫu... Thuyết tích họ Bùi, trang Quang Ánh có nghề cổ làm sành sứ lâu đời, khởi nghệ do nữ tài Bùi Thị Hý. Bà là người có tài văn chương, chữ đẹp, kỳ tài về họa. Bà cải trang làm nam giới, thi tới tam trường, phạm quy, bị quan trường đuổi. Sau bà lấy chồng ở huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách nhưng không có con. Người phụ nữ tài năng có nhiều con đường tiến thân, bà có nghề cùng với chồng là ông Đặng Sĩ, một chủ lớn về trang Quang Ánh vào năm Thái Hòa thập niên (1452) cùng em trai là Bùi Khởi chiêu tập người làm thuê, dựng lò, ở bắc trang, nơi ấy thuận đường thủy, gần sông Định Đào, giao thương với châu Nam Sách, chế tác những sản phẩm đặc biệt, cống hoàng triều, xuất cho nhiều thương nhân nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, phương Tây, trao đổi gấm vóc, gỗ từng, cá, gạo, vàng bạc. Từ đấy nghề thịnh đạt, năm này qua năm khác tài lộc tăng nhiều, gia đình họ hàng giàu mạnh, cùng nhau khởi dựng đình trang. Đến thời đất nước đại loạn, bọn hung tặc triệt phá, con cháu xiêu tán, không thể tác nghiệp, nghệ vinh suy vong, nghề hết". Thanh kiếm báu của bà Bùi Thị Hý trên tay người hậu duệ là anh Bùi Đức Hợi. Gia phả viết gọn, súc tích, chính xác về năm tháng. Từ gia phả trên mà biết được lý lịch của người phụ nữ đặc biệt này từ gia cảnh, lịch sử, đặc biệt là học vấn, nghề nghiệp gốm sứ, tình hình giao thương vượt biển thế kỷ XV. Người lập gia phả cực kỳ trân trọng khi gọi Bùi Thị Hý là nữ tài. Gia phả viết năm Bảo Đại Nhâm Thân (1932), do cụ Bùi Đức Nhuận, cháu 13 đời, trưởng chi 3, sao từ một gia phả cổ. Vậy gia phả cổ liệu có còn? Ngày 27/6, gia đình họ Bùi lại đem đến cho Hội Sử học đọc vài trang của gia phả cổ, viết năm Minh Mệnh 13 (1832), tức trước bản sao một thế kỷ, viết trên lụa. Đây là tư liệu rất quý, xác định cho sự chính xác của bản sao. Gia phả thứ hai này cho biết năm sinh (1420) của nữ tài và cho biết những tư liệu này sao từ một gia phả xưa và từ tấm bia cổ. Vậy tấm bia cổ này nay liệu còn? Cuộc truy tìm cứ thế mà diễn tiến. Ông Hoành nhớ lại: "Từ những dữ liệu này, chúng tôi suy ra một số vấn đề. Bà Bùi Thị Hý thi đến tam trường, phải chăng đây là kỳ thi tiến sĩ? Vậy kỳ thi ấy vào năm nào? Từ năm 1442 đến 1450, khi bà đã là nghệ nhân làm đồ gốm chỉ có 2 khoa thi: Nhâm Tuất (1442) và Mậu Thìn (1448). Người phụ nữ thời phong kiến 29 tuổi đã yên bề gia thất từ lâu. Vậy bà chỉ có thể dự kỳ thi tiến sĩ đầu tiên của triều Lê sơ (1442). Kỳ thi này Nguyễn Trãi làm độc quyển. Một người có tri thức và biệt tài làm đồ gốm như bà thì không thể chỉ có một minh văn (chữ viết) trên đồ gốm, có thể còn nhiều mà nay chưa biết". Ngày 12/8/2006, nhân ngày giỗ thứ 507 của bà, Hội Sử học Hải Dương, kết hợp với UBND huyện Gia Lộc và xã Đồng Quang tổ chức hội thảo về nữ tài Bùi Thị Hý qua di vật ở nước ngoài và 2 cuốn gia phả của họ Bùi nhằm bước đầu khẳng định vai trò của bà và những chủ nhân gốm Chu Đậu, đồng thời thúc đẩy việc tiếp tục sưu tầm những di vật có liên quan. Các nhà khoa học đã nhắc nhở hậu duệ của bà và Bảo tàng tỉnh là phải đặc biệt quan tâm đến những di vật có chữ Hán còn lưu ở trong gia đình và địa phương, nhất là đồ gốm, đồ gỗ, bia ký và sách vở xưa. Công việc này được anh Bùi Đức Lợi là hậu duệ 15 đời đặc biệt quan tâm và nhiệt tình sưu tầm. Sự tha thiết với tổ tiên của bậc cháu chắt ấy đã gặp những may mắn hiếm thấy. Sau một năm chờ đợi, ngày 16/5/2007, anh Lợi tìm được con nghê ở lò gốm cổ, nơi mà gia phả nói là do Đặng Sĩ xây dựng năm Thái Hòa thập niên (1452), cao 22cm, dài 27cm, đế rộng 6,5cm, phía đuôi có chữ viết, mang cho các nhà sử học nghiên cứu. Hình dáng cũng như chất liệu của con nghê này không có gì lạ vì có một số hiện vật tương tự ở những hố khai quật tại Chu Đậu và làng Cậy, điều quan trọng là 2 dòng chữ: "Quang Thuận nhất niên, Quang Ánh trang, Bùi Thị Hý tạo", có nghĩa hiện vật do Bùi Thị Hý, ở trang Quang Ánh, tạo vào năm Quang Thuận thứ nhất (1460). Đây là di vật vô cùng quan trọng để xác định vai trò của nữ tài Bùi Thị Hý. Dù là các đại nho cũng không thể dịch là ông họ Bùi nào đó tạo chơi được! Nhưng vận may không dừng ở đó. Ngày 10/7/2007, anh Lợi lại mang đến cho các nhà khoa học chiếc đĩa còn sống men, vốn là một phế phẩm bị người xưa loại bỏ ngay ở chân lò chứ không đưa vào buôn bán. Đĩa có đường kính 32,7cm, cao 7,8cm, đường kính trôn 14cm, chân cao 0,7cm; tạo dáng một bông hoa 12 cánh, hoa văn khắc chìm theo truyền thống Lý Trần. Giữa đáy có bông hoa 9 cánh, trong đường tròn đường kính 9cm. Trên sườn khắc hoa cúc liên hoàn, rất tinh tế, tỉa kỹ từng gân lá. Xương gốm vàng nhạt, hơi thô, men chưa chín nên thô ráp, chưa phản quang. Phía ngoài để trơn. Trôn quét son nâu nhạt. Đĩa này nếu nung chín sẽ có màu xanh nhạt, dễ nhầm với gốm Lý Trần. Hiện vật tương tự đã thấy ở lò Thanh Khơi (Trùng Khánh - Gia Lộc), ở Chu Đậu. Đặc biệt ở hiện vật này dưới trôn viết theo đường tròn sát chân đĩa 18 chữ Hán nét mảnh. (Diên Ninh nhất niên, Gia Phúc huyện, Quang Ánh trang, tỷ Bùi Thị Hý, đệ Bùi Khởi tạo). Có nghĩa là: Vào năm Diên Ninh thứ nhất (1454), tại trang Quang Ánh huyện Gia Phúc, chị là Bùi Thị Hý, em là là Bùi Khởi tạo (chiếc đĩa này). Các hiện vật này chúng ta có thể biết được khả năng mỹ thuật của nữ tài trên 3 loại hình: vẽ (hoa lam trên bình ở Thổ Nhĩ Kỳ - 1450), điêu khắc (con nghê - 1460 và sau là con rồng lớn ở ngã ba sông Định Đào), và khắc chìm (trên đĩa - 1454). Anh Lợi bên chiếc mâm đồng ghi bản sao mộ chí. Tiếp đó anh Lợi lại lễ mễ mang cho các nhà sử học chiếc mâm đồng đã han gỉ, đường kính 48cm, cháy một phần ở phía ngoài. Chiếc mâm vốn là đồ gia bảo, do bố anh Lợi cất giữ, thời chạy giặc Pháp, ngôi nhà xưa của gia đình bị đốt phá, chiếc mâm đồng bị một tảng tường đất đè lên, phía ngoài lửa liếm cháy nham nhở nhưng bên trong chữ còn vẹn nguyên. Sau khi cọ rửa và xát phấn, Hội Sử học đếm có 18 dòng, gồm 379 chữ, trong đó có một số chữ nôm. Đây là một bản sao bia mộ chí, có những thông tin vô cùng quý. Việc khắc văn bia mộ chí vào mâm đồng không phải có nguồn gốc ở Việt Nam mà từ thời Thương Chu ở Trung Quốc (thế kỷ IX trước CN), người ta đã ghi tiểu sử nhà vua thứ năm của nhà Chu vào một mâm đồng, chôn trong huyệt mộ, người Trung Quốc gọi là bàn sử (sử viết trên mâm). Các nhà sử học khôi phục toàn bộ văn bản như bản gốc và phiên dịch. Bản dịch mặt trước bia đá: TS Nguyễn Đình Chiến - Bảo tàng Lịch sử Việt Nam: "Gốm hoa lam xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam ở đời Trần qua hiện vật phát hiện trong con tàu đắm thế kỷ XIV mà ngư dân Cà Mau vớt được. Đến hiện vật của con tàu đắm tại Cù Lao Chàm là một phát hiện hết sức độc đáo bởi xuất hiện nhiều đồ gốm khớp với dòng gốm Chu Đậu, khớp với cả dòng gốm Bát Tràng, gốm Thăng Long, tất nhiên ở đó Chu Đậu vẫn chiếm đa số. Về chuyện giải mã mười mấy chữ Hán trên chiếc bình hoa lam tại Thổ Nhĩ Kỳ, tôi vẫn nghiêng về cắt nghĩa chữ Bùi Thị Hý nghĩa là ông Bùi nào đó vẽ chơi chứ không phải Bùi Thị Hý là một nghệ nhân nữ có tên Bùi Thị Hý". "Mộ người vợ kỳ tài họ Bùi, tên huý là Hý". Hai dòng bên phải bia ghi: "Ngày 10 tháng 10 năm Cảnh Thống Nhâm Tuất (1502), phu quân (chồng) là Đặng Phúc lập bia. Phu nhân, sinh năm Canh Tý (1420), thời Bình Định Vương Lê Lợi". Dòng bên trái bia ghi: “Mất ngày 12/8 năm Cảnh Thống Kỷ Mùi (1499)”. Mặt sau ghi: "...Sau Đặng Sĩ (chồng trước) cùng những người làm thuê gặp nạn, chết ở biển Đông. Phu nhân tái giá lấy đại gia Đặng Phúc, người trang Chu (Đậu). Phu nhân là một trang nữ tài võ, thông văn, làm chủ thương đoàn (đi) Nhật Bản, Trung Quốc, phương Tây, đến nước ngoài buôn bán dặc phẩm (gốm, sứ). Thật buồn thay, phu nhân kỳ tài làm bình gốm mà lại không con. Sau về trang Quang Ánh, hưng công làm chùa, đình làng, làm thí chủ xây dựng nhà thờ họ; hưng công bắc cầu đá Đôn Thư, Lâm Kiều (ở bản huyện). Đến đêm 12, tháng 8 năm Kỷ Mùi (1499), trời đất cuồng phong, mưa gió, sấm chớp. Lạ thay, phu nhân nằm trong bình phong mà phát ra ánh sáng hồng như con rồng bay lên. Đoạn phu nhân hóa. Sau rất thiêng, ai có tâm cầu cúng, tất hiển ứng". Chú dẫn: Khi thời thế thay đổi, bia đá cổ huyệt tổ cô giữ ở đất thiêng, cấm chỉ mọi vi phạm". Gia phả chỉ cho biết bà lấy đại gia Đặng Sĩ, còn sau đó thế nào không rõ. Bia cho biết, ông Đặng Sĩ một lần chỉ huy đoàn tàu vượt biển buôn bán, gặp nạn, chết ở biển Đông cùng với thủy thủ đoàn. Sau đó bà tái giá lấy ông Đặng Phúc một ông chủ lò gốm Chu Đậu. Bà trở thành chủ thương đoàn, vượt biển buôn bán với nhiều chuyến đi Trung Quốc, Nhật Bản và Tây phương bán đồ gốm. Chi tiết này vô cùng quan trọng về ngoại thương của Việt Nam ở thế kỷ XV. Các nhà nghiên cứu kinh ngạc ở chỗ, trước họ nghĩ hàng hải Việt Nam xưa kém phát triển, chỉ có những thuyền thúng thuyền mủng hay thuyền gỗ nhỏ loanh quanh gần bờ gần vụng chứ ít dám nghĩ đến thương thuyền lớn với bộ sậu buồm, chèo khổng lồ có khả năng vượt biển Đông đến các quốc gia khác. Khi quan sát những sản phẩm gốm Chu Đậu có vẽ các chi tiết tàu vượt biển, họ thường đinh ninh đó là những hình ảnh do thủy thủ nước ngoài kể lại cảnh mình hay gặp trên biển cho thợ gốm Việt Nam nghe, sau đó các nghệ nhân ta tưởng tượng rồi vẽ lại. Qua tư liệu này, có thể nói, đó là hình ảnh trực quan của thủy thủ và thương nhân Việt Nam trên đường vượt biển, buôn bán với nước ngoài, trong đó có nghệ nhân Bùi Thị Hý "kể" về những sóng gió, vất vả khi bôn ba cùng những con sóng bạc đầu, những trận cuồng phong thịnh nộ của biển cả hay những quái thú, quái ngư của ngàn khơi. Điển hình là một đĩa hoa lam, đường kính 36cm, hiện lưu giữ trong một sưu tập ở Adilaide, Nam Úc. Lòng đĩa vẽ tích khá đặc biệt, 2 thuyền lớn, trên đường vượt biển, gặp gió lớn, buồm đã hạ xuống, trên mặt sóng xô dữ dội, có 3 thủy thủ rơi xuống nước, trong đó có 1 người đang bị một con cá khổng lồ đã nuốt đến thắt lưng. Cảnh tượng xám xịt một màu bi ai. Xứ Đoài
Bùi Kỷ Bùi Kỷ (1888-1960) Bùi Kỷ (1888-1960), tên chữ là Ưu Thiên, tên hiệu là Tử Chương sinh ngày 5-1-1888 ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân (nay thuộc thị xã Phủ Lý) tỉnh Hà Nam, mất ngày 19-5-1960 tại Hà Nội. Bùi Kỷ sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng Nho học. Tổ tiên họ Bùi vốn gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây), khoảng thời cuối triều Lê chuyển đến ở Châu Cầu lập nghiệp, tới đời thứ 6 thì phát khoa năm 1865 cả hai anh em thúc bá Bùi Văn Dị và Bùi Văn Quế đều đỗ Phó bảng; Bùi Văn Dị (1833-1895) làm quan đến Thượng thư, phụ chính đại thần. Bùi Văn Quế (1837-1913) làm quan đến Tham trị bộ hình thì cáo quan về quê. Con trai ông Quế là Bùi Thức (1859-1915) đỗ Tiến sĩ Nho học (1898), không ra làm quan, ở nhà dạy học và viết sách. Ông Thức có ba con trai là Bùi Kỷ, Bùi Khải và Bùi Lương, đều đỗ đạt. Từ nhỏ Bùi Kỷ được cha dạy về Nho học, ngoài ra còn tìm thầy học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Năm 1909 lần đầu dự thi Hương, Bùi Kỷ đã đỗ Cử nhân, năm sau vào Huế thi Hội và thi Đình, ông đỗ Phó bảng được bổ đi làm Huấn đạo, nhưng ông từ chối, lấy cớ phải ở nhà phục dưỡng cha và ông nội đều đang già yếu. Năm 1912, chính quyền bảo hộ chọn cử ông sang Paris (Pháp) học trường thuộc địa (Ecole coloniale). Nhân dịp này ông đi nhiều nơi trong nước Pháp và các nước lân cận; ông cũng có dịp tiếp xúc với một số người Việt yêu nước và cách mạng đang lưu ngụ ở Pháp, trong đó có Phan Chu Trinh. Hai năm sau trở về nước, dù được tòa Thống sứ Bắc Kỳ gọi lên bổ dụng nhiều lần, ông đều từ chối. Ông tổ chức cho gia đình mình sản xuất hàng thủ công xuất khẩu (bông vải, tre đan) nhưng ít kết quả. Sau khi cha và ông nội đều qua đời, Bùi Kỷ bỏ sang Quảng Châu (Trung Quốc) hai năm. Về nước khi đã 30 tuổi, từ 1917 ông ra Hà Nội dạy học. Ông dạy tại các trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng công chính, Cao đẳng pháp chính, theo lối ký hợp đồng từng năm chứ không vào biên chế viên chức của “nhà nước bảo hộ”. Ngoài ra từ năm 1932, ông còn dạy trường tư cho hai tư thục Văn Lang và Thăng Long. Trường Thăng Long do một số tri thức tiến bộ và cách mạng như Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp lập ra đã mời Bùi Kỷ cùng trực tiếp giảng dạy. Ngoài việc dạy học, ông còn là một nhà biên khảo, nhà sáng tác, cộng tác với một số báo chí ở Hà Nội như tạp chí Nam Phong, tập san của hội Khai Trí Tiến Đức, báo Trung Bắc Tân Văn... Ông còn hăng hái tham gia các hoạt động văn học xã hội của giới tri thức Hà thành như kỷ niệm 105 ngày mất thi hào Nguyễn Du (1925), lễ truy điệu chí sỹ Phan Chu Trinh ở Hà Nội (1926), phong trào truyền bá chữ quốc ngữ,... Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Bùi Kỷ là một trong số những nhân sĩ tri thức được chính thế hệ mới trọng vọng. Ông được mời tham gia Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 (LK3), làm chủ tịch Hội Liên Việt (LK3), Hội truởng Hội giúp binh sĩ tị nạn LK3. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử Bùi Kỷ làm Phó ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ, sau làm Trưởng ban Bình dân học vụ toàn quốc, là thành viên của Chính phủ. Ông được chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Năm 1945 hòa bình lập lại, ông là Uỷ viên Chủ tịch đoàn Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ủy ban bảo vệ hoà bình thế giới, Hội trưởng Hội Việt - Trung hữu nghị. Ngòi bút của Bùi Kỷ chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực biên khảo; ngoài ra ông cũng là nhà sáng tác ở khá nhiều thể loại văn học. Các công trình biên khảo của Bùi Kỷ thường gắn với nội dung dạy và học môn ngữ văn Hán-Việt bậc trung học của nhà trường phổ thông Pháp - Việt ở xứ Đông Dương thuộc Pháp đương thời. Đó là các cuốn Quốc văn cụ thể (1932), Hán văn trích thái diễn giảng khóa bản (cùng soạn với Trần Văn Giáp, 1942), Việt Nam văn phạm bậc trung học (soạn chung với Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, 1940 ), Tiểu học Việt Nam văn phạm (Soạn cùng với Trần Trọng Kim và Nguyễn Quang Oánh, 1945 ). Nổi bật nhất trong số này là cuốn Quốc văn cụ thể, trình bày về các hình thức, thể tài các loại thơ văn tiếng Việt truyền thống. Với loại sách biên khảo giáo khoa, Bùi Kỷ là một trong số những nhà nghiên cứu người Việt đầu tiên tham dự vào việc hình thành các tri thức về ngữ văn Việt và Hán Việt, các tri thức thi học lịch sử về văn học Việt Nam. Bùi Kỷ là học giả có nhiều đóng góp vào việc hiệu khảo văn bản một loạt truyện thơ Nôm các thế kỷ trước, góp phần giữ gìn và truyền lại cho đời sau. Văn bản Truyện Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in lần đầu 1925, đã dành được sự tín nhiệm của nhiều thế hệ độc giả. Từ những năm 1930 đến những năm 1950, Bùi Kỷ tiến hành hiệu khảo một loạt truyện Nôm khuyết danh: Trê cóc, Trinh thử, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng. Ông cũng có sự đóng góp quyết định trong việc khảo cứu di sản thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du, trong việc xác định giá trị Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, v.v. Các bản dịch tác phẩm chữ Hán của tác giả Việt Nam do Bùi Kỷ thực hiện, nổi bật là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, bản dịch từng có vị trí đáng kể trong đời sống văn học. Bùi Kỷ còn thử nghiệm việc dịch một số tác phẩm Nôm cổ điển sang chữ Hán như thơ Bà Huyện Thanh Quan hay Truyện Kiều - một công việc sẽ rất có ý nghĩa trên hướng giới thiệu văn học Việt Nam với độc giả Trung Quốc. Học giả Bùi Kỷ còn là cây bút sáng tác văn học ở khá nhiều thể loại: văn (nghị luận, phú, văn tế, câu đối...), thơ (thơ chữ Hán, thơ tiếng việt); ở đây tác giả dường như không có ý định vượt ra ngoài phạm vi kiểu văn học Đông Á Trung đại. Ở đây tác giả, vẫn như các thế hệ nhà nho trước kia, dùng văn thơ như nơi để nói chí, tỏ lòng, để thể hiện thế giới tinh thần của mình trong những nét thanh cao với nhiều ưu tư lo đời, thương đời lại cũng dùng văn thơ như phương thức răn mình, răn đời. Phần sáng tác thơ mà Bùi Kỷ tập hợp thành tập Ưu Thiên đồ mặc, chưa in thành sách, chỉ đăng báo ít bài, nay hầu như đã thất lạc, có lẽ là nơi thể hiện rõ nhất tâm tình tác giả